Nhận xét các trường hợp ngưng thở lúc ngủ ở trẻ em

Béo phì là một yếu tố nguy cơ cao của HCNTLNTN trên dân tộc Âu Mỹ, tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 16,67% trẻ béo phì bị HCNTLNTN, kết quả này tương tự với kết quả trên một số nghiên cứu tại Ấn Độ Trung Quốc, Singapore(1,5,6). Điểm này gợi ý có lẽ ở người châu Á có thêm yếu tố nguy cơ khác như cấu trúc vùng sọ mặt bất thường (hàm dưới đưa ra sau, đường hô hấp sau hẹp, cằm nhỏ hơn, Amidan lớn, phì đại màn hầu, lưỡi gà hay lưỡi (2,4) Việc điều trị HCNTLNTN trên cơ bản giống như tại các nước châu Âu và thường dựa trên những triệu chứng lâm sàng và kết quả của đa ký giấc ngủ (hay đa ký hô hấp). Có một nhóm chuyên gia sẽ tư vấn cho bệnh nhân vế các biến chứng, các phương pháp điều trị, việc theo dõ điều trị lâu dài của HCNTLNTN. Đa số các trường hợp ngưng thở lúc ngủ trong nghiên cứu của chúng tôi là đo Amiđan lớn, một số trường hợp kết hợp với VA Mallampaty hay VA đơn thuần. Do đó, chỉ định cắt Amiđan, nạo VA kịp thời, thích hợp sẽ giải quyết được phần lớn các trường hợp HCNTLNTN ở trẻ em, giúp trẻ có cuộc sống tốt học hành bình thường.

pdf5 trang | Chia sẻ: huongthu9 | Ngày: 20/08/2021 | Lượt xem: 261 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nhận xét các trường hợp ngưng thở lúc ngủ ở trẻ em, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP, Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Chuyên Đề Sức khỏe Sinh sản và Bà Mẹ - Trẻ em 86 NHẬN XÉT CÁC TRƯỜNG HỢP NGƯNG THỞ LÚC NGỦ Ở TRẺ EM Nguyễn Ngọc Đoan *, Nguyễn Thị Lệ **, Lê Thị Tuyết Lan** TÓM TẮT Mục tiêu: Hội chứng ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn (HCNTLNTN) ở trẻ em là rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ thường gặp nhất. Tần suất HCNTLNTN bên Châu Âu là 4% ở nam giới và 2% ở nữ giới. Mặc dù hội chứng này rất nguy hiểm, có nhiều biến chứng nhưng trong nhiều nước châu Á, kể cả Việt Nam, hội chứng này còn chưa được chẩn đoán đầy đủ từ đó chưa được điều trị. Do đó cần phải có một nghiên cứu ở Việt Nam để biết được tần suất cũng như các đặc tính của hội chứng này ở trẻ em Việt Nam Trong nghiên cứu này chúng tôi chú trọng đến tần suất, các đặc điểm dịch tễ học, các yếu tố nguy cơ của HCNTLNTN trên một số đối tượng đến Trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng (CHAC) khám vì rối loạn giấc ngủ. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiên cứu trên 12 bệnh nhân từ 3 đến 15 tuổi đến khám vì rối loạn giấc ngủ và được chẩn đoán bằng đa ký giấc ngủ. Kết quả: 75,00% người tham gia nghiên cứu bị HCNTLNTN, tỷ lệ nam / nữ là 5:1. Chỉ có 16,67% bệnh nhân bị béo phì, những triệu chứng gợi ý là ngáy, ngưng thở khi ngủ do người nhà kể lại và buồn ngủ ban ngày. 66,67% bệnh nhân được điều trị phẫu thuật. Kết luận: HCNTLNTN xảy ra ở 16,67% trẻ béo phì; 83,33% là bé trai. Nguyên nhân chủ yếu là Amiđan to, VA, Mallampaty. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là ngáy, ngừng thở lúc ngủ, buồn ngủ ban ngày học hành kém đi. 66,67% điều trị bằng phẫu thuật (cắt Amiđan, nạo VA). ABSTRACT CHARACTERISTICS OF OBSTRUCTIVE SLEEP APNEA CASES IN CHILDREN Nguyen Ngoc Đoan, Nguyen Thi Le, Le Thi Tuyet Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 – 2012: 86 - 90 Objectives: Obstructive sleep apnea (OSA) in children is the commonest respiratory disorder related to sleep. Its prevalence in caucasiens is 4% in males and 2% in females. Although it is very dangerous with many complications this syndrome is still underdiagnosed and not treated in many asian countries including Vietnam therefore it is necessary to conduct a study to determine the prevalence and the characteristics of this syndrome in Vietnamese people. In our study we assess the epidemiological aspects of OSA in patients coming to CHAC for sleep disorders. Method: This is a prospective study on 12 patients from 3 to 15 years old coming for sleep troubles, having been diagnosed by polysomnography. Results: 75% of the participants have OSA with male/female with the ratio 5:1. Only 16.67% of patients are obese, the evocating symptoms being snoring, dyspnea reported by the relativesand daytime sleepiness. 66.67% of patients are treated by surgery. Conclusion: OSA happened only 16.67% of patients are obese, 83.33% is male. The cases are big Amygdala, VA, Mallarmpaty, the evocating symptoms being snoring, dyspnea reported by the relativesand daytime sleepiness; 66.67% of patients are treated by surgery (Amygdalectomy, adenoidectomy). * Khoa Nhi, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre ** Bộ môn Sinh lý, Đại học Y Dược TP. HCM Tác giả liên lạc: ThS BS Nguyễn Ngọc Đoan ĐT: 0949 449 549, Email: drnguyenngocdoan@yahoo.com Y Học TP, Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Nhi Khoa 87 ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn (HCNTLNTN) là hiện tượng ngưng thở trong khi ngủ, một rối loạn thông thường nhất và nặng nhất của triệu chứng ngáy. Các yếu tố nguy cơ thường gặp của HCNTLNTN là tuổi cao, nam giới và béo phì nhưng hiện nay HCNTLNTN có thể gặp ở mọi lứa tuổi kể cả trẻ em, cả hai giới và cả ở người không béo phì. Hội chứng ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn có thể xảy ra ở mọi trẻ em. Theo một nghiên cứu tại Singapore, có khoảng 1% số trẻ từ 4- 6 tuổi bị ngưng thở khi ngủ và thưởng hay xảy ra ở các trẻ ngáy ngủ, thừa cân hoặc béo phì, Amiđan to, quá phát hoặc VA, các bất thường về giải phẫu ở đường hô hấp trên, các bệnh rối loạn về thần kinh – cơ, trong gia đình trẻ có người bị mắc chứng bệnh này. Hiện nay ở Việt Nam, HCNTLNTN ở trẻ em chưa được biết đến nhiều trong dân chúng và kể cả nhân viên y tế do đó hội chứng này còn chưa được chẩn đoán đầy đủ từ đó chưa được điều trị tốt mặc dù nó có nhiều biến chứng như nhức đầu vào buổi sáng, ngủ gật hay ngủ ngày quá nhiều, chậm phát triển, học hành bị kém đi. Triệu chứng lâm sàng thường gặp bao gồm ngáy to, ngưng thở trong khi ngủ do người nhà kể lại và buồn ngủ ban ngày. Tần suất của HCNTLNTN trẻ em thay đổi tùy theo các cộng đồng khác nhau do đó cần thiết phải tiến hành một công trình nghiên cứu ở Việt Nam để biết rõ hơn về tần suất và đặc điểm của hội chứng này ở các bệnh nhi Việt Nam. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát đặc điểm về dịch tể học, nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng, giúp điều trị thích hợp nhằm giảm biến chứng cho bệnh nhân. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Xác định sự phân bố đặc điểm về dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của HCNTLNTN của trẻ em tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng (CHAC) Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu chuyên biệt Xác định sự phân bố HCNTLNTN của trẻ em theo giới tính, cơ địa. Xác định tỷ lệ các nguyên nhân của HCNTLNTN ở trẻ em. Xác định các triệu chứng lâm sàng thường gặp của HCNTLCTN của trẻ em. Xác định các đặc điểm về AHI, chỉ số ngáy/ giờ và mức độ giảm dộ bão hòa oxy của HCNTLCTN của trẻ em. Xác định các đặc điểm về điều trị HCNTLNTN ở trẻ em. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Tiền cứu mô tả hàng loạt ca. Đối tượng nghiên cứu Tất cả bệnh nhi từ 3 – 15 tuổi có HCNTLNTN tại CHAC từ ngày 01 – 01 – 2011 đến 30 – 09 – 2011. Cở mẫu Chúng tôi chọn tất cả bệnh nhi từ 3 – 15 tuổi có HCNTLNTN đến khám tại CHAC từ ngày 01 – 01 – 2011 đến 30 – 09 – 2011. Kỹ thuật lấy mẫu Lấy mẫu không xác suất, tiếp liền nhau từ ngày 01 – 01 – 2011 đến 30 – 09 – 2011. Tiêu chí đưa vào Bệnh nhi được chẩn đoán HCNTLNTN thỏa tiêu chí sau: Khi bệnh nhi có chỉ số ngưng thở, giảm thở ≥ 1 / giờ trên đa ký giấc ngủ. Tiêu chí loại trừ Bệnh nhi và gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu. Cách tiến hành Các đối tượng tham gia được khám lâm sàng và tư vấn vào CHAC một đêm đo đa ký giấc ngủ để làm chẩn đoán. Nghiên cứu Y học Y Học TP, Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Chuyên Đề Sức khỏe Sinh sản và Bà Mẹ - Trẻ em 88 Các bé tham gia nghiên cứu được đo đa ký giấc ngủ làm chẩn đoán. Vào buổi tối hôm đó điều dưỡng sẽ đo mạch, huyết áp, chiều cao, cân nặng và bác sĩ trực sẽ làm hồ sơ bệnh án, khám lâm sàng và cho khám Tai Mũi Họng và hỏi kỹ tiền sử bệnh như nạo VA, cắt Amiđan Chúng tôi sử dụng máy Medatec (Đa ký giấc ngủ) để làm chẩn đoán. Máy đo đa ký giấc ngủ ghi được điện não đồ, điện cơ mắt, điện cơ cằm và hai chân, điện tâm đồ, dòng khí mũi và miệng, các cố gắng hô hấp (dây đai bụng và ngực), độ bảo hòa oxy từ đó sẽ phát hiện những bất thường hô hấp (ngưng thở, giảm thở, gia tăng gắng sức hô hấp dẫn đến một vi thức giấc) chứng tỏ có bệnh lý tắc nghẽn đường hô hấp trên trong khi ngủ. Một bất thường hô hấp được chẩn đoán khi có hiện tượng ngưng dòng khí hoàn toàn kéo dài ≥ 10 giây (ngưng thở) hay giảm dòng khí (giảm thở) kèm theo độ bảo hòa oxy ít nhất 4%. Số lượng các đợt ngưng thở và giảm thở mỗi giờ được tính toán bằng chỉ số ngưng thở - giảm thở/giờ (AHI) và các vi thức giấc được ghi nhận. Có nhiều phương pháp điều trị sẽ được đề nghị tùy theo mức độ nặng của HCNTLNTN và tùy theo các nguyên nhân gây ra hội chứng này. Trị liệu nội khoa: giảm cân đối với các đối tượng dư cân, nằm nghiêng khi ngủ (đối với các đối tượng ngáy theo tư thế), dùng dung dịch nhỏ mũi chống ngáy (ASONOR). Phẫu thuật tai mũi họng: cắt amiđan, nạo VA. KẾT QUẢ Trong thời gian từ 01 – 01 – 2011 đến 30 – 09 – 2011, có 16 bệnh nhi từ 3 – 15 tuổi đồng ý tham gia nghiên cứu, trong đó có 12 trường hợp (75%) thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán, với kết quả như sau: Bảng 1: Sự phân bố tần suất theo giới tính, cơ địa Giới tính Cơ địa Nam: 10 ca (83,33%) Béo phì: 2 ca (16,67%) Nữ: 2 ca (16,67%) Bình thường: 10 ca (83,33%) Bảng 2: Sự phân bố tần suất theo nguyên nhân Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ (%) Amiđan to 6 50,00 VA 2 16,67 Amiđan to + VA 2 16,67 Amiđan to + Mallampaty 2 16,67 Bảng 3: Sự phân bố tần suất các triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sang Số lượng Tỷ lệ (%) Ngáy 12 100,00 Ngừng thở (người nhà kể) 9 75,00 Buồn ngủ ban ngày 6 50,00 Học hành kém đi 5 41,65 Cử động chân 4 33,33 Hiếu động 2 16,67 Sự phân bố các triệu chứng trên Đa ký giấc ngủ Bảng 4: Chỉ số ngáy và giảm SpO2 Chỉ số ngáy Giảm SpO2 12 ca (100,00%) 9 ca (75,00%) Bảng 5: Chỉ số AHI Chỉ số AHI 30 / h Số lượng 6 4 0 2 Tỷ lệ (%) 50,00 33,33 0,00 16,67 Bảng 6: Điều trị Phương pháp điều trị Số lượng Tỷ lệ (%) Nội khoa 4 33,33 Phẫu thuật 8 66,67 Có 33,33% trường hợp điều trị nội khoa và 66,67% can thiệp phẫu thuật. Kết quả có 83,33% bệnh nhân cải thiện tốt. Tuy nhiên, chúng tôi chưa có đủ thời gian và điều kiện đánh giá lại đa ký giấc ngủ. BÀN LUẬN Đã có nhiều công trình nghiên cứu về HCNTLNTN trên nhiều dân tộc khác nhau. Tuy nhiên, các công trình đó thực hiện trên các dân tộc Âu và Mỹ nên không thể áp dụng cho trẻ em châu Á. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Lê Thượng Vũ, Nguyễn Xuân Bích Huyên về HCNTLNTN trên đối tượng người lớn tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2010 bước đầu đã cho chúng ta thấy có 87,1% HCNTLNTN xảy ra trên bệnh nhân đến khám vì rối loạn giấc ngủ. Tuy nhiên, Y Học TP, Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Nhi Khoa 89 chúng ta chưa có số liệu nghiên cứu về HCNTLNTN trên đối tượng trẻ em Việt Nam để so sánh. Nghiên cứu của chúng tôi trong thời gian ngắn, cở mẫu nhỏ, không đủ đại diện cho trẻ em Việt Nam nên chúng tôi chỉ đưa ra một số nhận xét: Tần suất HCNTLNTN trên các trẻ có rối loạn giấc ngủ là 75%, thấp hơn nghiên cứu của Lê Thượng Vũ và Nguyễn Xuân Bích Huyên là 87,1%; đa số xảy ra ở trẻ nam (83,33%). Triệu chứng ngáy, ngừng thở lúc ngủ, buồn ngủ ban ngày và học hành kém di chiếm một tỷ lệ khá cao. Chứng buồn ngủ ban ngày là do chất lượng giấc ngủ ban đêm kém kết hợp với triệu chứng ngáy (hậu quả của việc thức giấc thường xuyên ban đêm)(3). Béo phì là một yếu tố nguy cơ cao của HCNTLNTN trên dân tộc Âu Mỹ, tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 16,67% trẻ béo phì bị HCNTLNTN, kết quả này tương tự với kết quả trên một số nghiên cứu tại Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore(1,5,6). Điểm này gợi ý có lẽ ở người châu Á có thêm yếu tố nguy cơ khác như cấu trúc vùng sọ mặt bất thường (hàm dưới đưa ra sau, đường hô hấp sau hẹp, cằm nhỏ hơn, Amidan lớn, phì đại màn hầu, lưỡi gà hay lưỡi(2,4) Việc điều trị HCNTLNTN trên cơ bản giống như tại các nước châu Âu và thường dựa trên những triệu chứng lâm sàng và kết quả của đa ký giấc ngủ (hay đa ký hô hấp). Có một nhóm chuyên gia sẽ tư vấn cho bệnh nhân vế các biến chứng, các phương pháp điều trị, việc theo dõi điều trị lâu dài của HCNTLNTN. Đa số các trường hợp ngưng thở lúc ngủ trong nghiên cứu của chúng tôi là đo Amiđan lớn, một số trường hợp kết hợp với VA, Mallampaty hay VA đơn thuần. Do đó, chỉ định cắt Amiđan, nạo VA kịp thời, thích hợp sẽ giải quyết được phần lớn các trường hợp HCNTLNTN ở trẻ em, giúp trẻ có cuộc sống tốt, học hành bình thường. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu 16 trẻ đến khám vì rối loạn giới ngủ, có 12 trẻ (chiếm tỷ lệ 75%) có HCNTLNTN, chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau: HCNTLNTN xảy ra ở 16,67% trẻ béo phì; 83,33% là bé trai. Nguyên nhân chủ yếu là Amiđan to (50,00%), Amiđan to kết hợp VA (16,67%), Amiđan to kết hợp Mallampaty (16,67%) và VA (16,67%). Triệu chứng lâm sàng thường gặp là ngáy (100,00%), ngừng thở lúc ngủ (75,00%), buồn ngủ ban ngày (50,00%), học hành kém đi (41,65%), chân không yên (33,33%) và hiếu động (16,67%). Chỉ số AHI: 50,00% ngưng thở < 5 lần/ giờ; 33,33% ngưng thở 5 – 15 lần và 16,67% ngưng thở > 30 lần/ giờ. Có 75,00% trường hợp giảm dộ bảo hòa oxy. Điều trị bằng phẫu thuật cắt Amiđan, nạo VA giúp giải quyết được 66,67% HCNTLNTN ở trẻ em. Nghiên cứu của chúng tôi còn một số giới hạn như nó chỉ phản ảnh được tần suất HCNTLNTN trên những trẻ em sống tại các thành phố lớn, có mức sống cao và gia đình biết quan tâm đến sức khỏe của con mình, tuy nhiên nó cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam giúp mọi người có một cái nhìn tồng quát về HCNTLNTN ở trẻ em cũng như ý thức về các biến chứng nguy hiểm của nó. Trong tương lai cần phải có một nghiên cứu rộng hơn trên trẻ em Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bing LMS., et al (2004): A community study f sleep disordered breathing in middle-aged Chinese women in Hong Kong; 125: 127- 134. 2. Goldstein R, Shipirer I, Stav D, Askenasty JM. (2005): A rank Order evaluation of complaints in patients suspected os sleep apnea. The Internet Journal of Pulmonary Medicine ISSN: 1531- 2984. 3. Goldstein J et al (2005): A rank order evaluation of complaints in patients suspected of sleep apnea symptoms The Internet Journal of Pulmononary Medicine ISSN: 1531-2984 Nghiên cứu Y học Y Học TP, Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Chuyên Đề Sức khỏe Sinh sản và Bà Mẹ - Trẻ em 90 4. Lam B, Lam DCL. (2007): Obstructive sleep apnea in Asia. Int I Tuberc Lung Dis; 11 (1): 2-11. 5. Ng TP, Seow A, Tan W C. (1998): Prevalence of snoring and sleep breathing disordered related disorders in Chinese, Malay and Indian adults in Singapore. Eur Respir J; 12: 198-203. 6. Uwadia Zarir F Doshi Amita V, Lomkar Sharmila G, Chandrajeet Singh, (2003): Prevalence of sleep disordered breathing and sleep apnea in middle aged Urban Indian men. AJRCCM; 10: 1164.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhan_xet_cac_truong_hop_ngung_tho_luc_ngu_o_tre_em.pdf
Tài liệu liên quan