Yếu tố liên quan kháng gamma globulin ở bệnh nhi kawasaki

Tỉ lệ kháng gamma globulin trong dân số là 5,8%. Các yếu tố có liên quan kháng gamma globulin là: giới nam, điều trị trước ngày thứ 7 của bệnh, Hct giảm; CRP, SGOT tăng. Các yếu tố liên quan độc lập là SGOT tăng, CRP trên 99,5 mg/l và Hct dưới 31,2 phần trăm. Với các biến số là các dữ liệu rất dễ thu thập trên thực tế như SGOT, CRP và Hct, chúng tôi nghĩ có thể áp dụng trên thực tế lâm sàng để phân loại những trẻ có nguy cơ kháng gamma globulin.

pdf7 trang | Chia sẻ: huongthu9 | Ngày: 20/08/2021 | Lượt xem: 140 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Yếu tố liên quan kháng gamma globulin ở bệnh nhi kawasaki, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ - Trẻ Em 274 YẾU TỐ LIÊN QUAN KHÁNG GAMMA GLOBULIN Ở BỆNH NHI KAWASAKI Trần Công Bảo Phụng*, Vũ Minh Phúc** TÓM TẮT Đặt vấn đề, mục tiêu: Xác định tỉ lệ kháng gamma gamma globulin ở bệnh nhi Kawasaki và tìm yếu tố liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả để xác định tỉ lệ, nghiên cứu bệnh chứng để tìm yếu tố liên quan. Dân số chọn mẫu là những bệnh nhi Kawasaki được truyền gamma globulin liều 2 g/Kg/12giờ tại bệnh viện Nhi Đồng I từ tháng 9-2003 đến tháng 5-2009 (n=567). Có 33 bệnh nhi được đưa vào nhóm kháng và 138 bệnh nhi được đưa vào nhóm không kháng. Những dữ liệu sẽ được thu thập và so sánh giữa hai nhóm kháng và không kháng bao gồm: yếu tố dịch tể (giới, tuổi), lâm sàng, ngày khởi đầu truyền gamma globulin, chỉ số huyết học và sinh hóa máu. Kết quả: Tỉ lệ kháng gamma globulin là 5,8%. Các yếu tố có liên quan đến tình trạng kháng gamma globulin gồm giới tính nam, truyền gamma globulin trước ngày thứ 7 của bệnh, SGOT tăng. Ở nhóm kháng gamma globulin, CRP cao hơn, Hematocrite thấp hơn nhóm không kháng có ý nghĩa thống kê. Dựa vào đường cong ROC, độ nhạy, độ chuyên và chỉ số Younden, điểm cắt cho hai biến liên tục CRP và Hct được xác định lần lượt là 99,5 (mg/l) và 31,2 (phần trăm). Phân tích đa biến xác định SGOT tăng (p=0,019), CRP >99,5 mg/dl (p=0,006) và hematocrite <31,2% (p=0,004) là các yếu tố liên quan độc lập. Kết luận: Giới nam, truyền gamma globulin trước ngày thứ 7 của bệnh, SGOT tăng, CRP>99,5mg/l và Hematocrite <31,2% là các yếu tố liên quan đến kháng gamma globulin ở bệnh nhi Kawasaki, trong đó SGOT tăng, CRP >99,5 mg/dl và hematocrite <31,2% là các yếu tố liên quan độc lập. Từ khóa: Kawasaki kháng gamma globulin. ABSTRACTS KAWASAKI RESISTANT TO GAMMA GLOBULIN AND RELATED FACTORS Tran Cong Bao Phung, Vu Minh Phuc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 1 - 2011: 274 - 280 Objectives: to identify the rate of IVIG resistance Kawasaki disease patients and the related factors Methods: Descriptive study to identify the rate of IVIG resistance and case-control study to identify related factors. Patients diagnosed KD were sampled when they received initial high-dose IVIG treatment (2 g/kg dose) (n _ 567). These patients were divided into 2 groups: the resistance (n _33) and the responder (n _ 138). The following data were obtained and compared between resistance and responder: age, sex, clinical symptoms, illness days at initial treatment, hematology data and biochemistry data. Results: The rate of IVIG resistance was 5.8%. Univariate analysis of pre-IVIG data showed that the prevalence of gender (male), IVIG infusion before the 7th day of illness, increased SGOT were significant higher in nonresponsive group. CRP was significant higher while hematocrite was significant lower in nonresponsive versus responsive patients. Based on ROC curve, sensitivity, specificity and Younden index, the cut-off points for CRP and Hct were identified as 99.5 (mg/l) and 31.2 (percent) respectively. Multivariate analysis selected * Khoa tim mạch Nhi Đồng I ** Bộ môn Nhi ĐHYD Tp. HCM Tác giả liên lạc: PGS TS Vũ Minh Phúc ĐT: 0917295508 Email: hpny012008@yahoo.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Nhi Khoa 275 increased SGOT (p=0.019), CRP >99.5 mg/dl (p=0.006) and hematocrite <31.2% (p=0.004) as independent related factors of IVIG resistance. Conclusions Gender (male), IVIG infusion before the 7th day of illness, increased SGOT, CRP >99.5 mg/l and hematocrite 99.5 mg/dl and hematocrite <31.2% are independent related factors. Key words: IVIG resistance Kawasaki. ĐẶT VẤN ĐỀ Kawasaki là bệnh lý viêm mạch máu hệ thống cấp tính, xảy ra ở nhũ nhi và trẻ nhỏ. Tổn thương chủ yếu trên các mạch máu có kích thước trung bình và nhỏ mà quan trọng nhất là hệ mạch vành(2). Liệu pháp điều trị chuẩn hiện nay bao gồm γ globulin 2g/kg truyền tĩnh mạch trong 10 đến 12 giờ trước ngày bệnh thứ 10, kết hợp với Aspirin uống. Nguyên nhân chính của tổn thưưng mạch vành là kháng γ globulin. Điều trị hiện nay sau khi thất bại với γ-globulin vẫn không hiệu quả(5,12). Như vậy, cần tiên lượng được vấn đề kháng γ globulin để có điều trị sớm hơn và hiệu quả hơn cho nhóm bệnh nhi này. Mục tiêu nghiên cứu Xác định tỉ lệ kháng γ globulin ở bệnh nhi Kawasaki. Xác định các yếu tố liên quan với kháng γ globulin ở bệnh nhi Kawasaki Xác định các yếu tố liên quan độc lập đến kháng γ globulin ở bệnh nhi Kawasaki. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả để xác định tỉ lệ. Nghiên cứu bệnh chứng để tìm yếu tố liên quan. Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhi Kawasaki được điều trị γ globulin tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 9/2003 đến tháng 5/2009. Cỡ mẫu Cỡ mẫu để ước lượng tỉ lệ kháng gama globulin là 246. Cỡ mẫu cho nhóm kháng gamma globulin để tìm yếu tố liên quan là 30. Cỡ mẫu cho nhóm chứng là 30 x 4 = 120. Kỹ thuật chọn mẫu Chọn mẫu liên tiếp, thỏa các tiêu chí chọn vào và loại ra, theo trình tự thời gian, cho ưến khi đủ cở mẫu. Tiêu chí chọn mẫu Kháng gamma globulin: còn sốt kéo dài hoặc sốt tái phát trong vòng 36 giờ sau điều trị γ- globulin liều đầu tiên. KẾT QUẢ Từ tháng 9/2003 đến tháng 5/2009, ghi nhận có 33 trường hợp kháng γ globulin trong tổng số 567 trường hợp Kawasaki được truyền gamma globulin tại bệnh viện Nhi Đồng 1. Lô nghiên cứu bệnh chứng gồm 33 trường hợp kháng gamma globulin và 138 trường hợp không kháng. Tỉ lệ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng là 1: 4,18. Tỉ lệ kháng gamma globulin Tỉ lệ kháng gamma globulin trong dân số nghiên cứu là 5,8%. Kháng gamma globulin 33 trường hợp (5,8%); Không kháng gamma globulin 534 trường hợp (94,2%). Các yếu tố liên quan kháng gamma globulin Liên quan giữa các yếu tố dịch tễ và kháng gamma globulin Yếu tố Không kháng Kháng P OR (KTC 95%) Tuổi(tháng) 20±17,8 22,5±25,7 0,598 Nhóm tuổi <12 th 61 (44,2%) 11(33,3%) 12 th ͢ 5 t 70 (50,7%) 20(60,6%) 0,524 >5 tuổi 7(5,1%) 2(6,1%) Phái nam 78(56,5%) 25(75,8%) 0,043 2,4(1,01- 5,70) Th: tháng; t: tuổi. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ - Trẻ Em 276 Tỉ lệ nam trong nhóm kháng cao hơn nhóm không kháng có ý nghĩa thống kê Liên quan giữa lâm sàng và kháng gamma globulin Triệu chứng Không kháng kháng p Hạch cổ to 93 (67,4%) 24 (72,7%) 0,554 Gan to 19 (13,8%) 7 (21,9%) 0,250 Vàng da 3 (2,2%) 1 (3%) 0,775 Sưng đau khớp 95 (68,8) 21 (63,6) 0,565 Ho, sổ mũi 83 (60,1) 25 (75,8) 0,095 Tiêu chảy, ói 70 (50,7) 20 (60,6) 0,307 Không có triệu chứng lâm sàng nào làm tăng nguy cơ kháng γ globulin. Liên quan giữa ngày điều trị với kháng gamma globulin Không kháng Kháng P Ngày điều trị(ngày) 8,13 ±2,10 8,09±2,76 0,926 Ngày điều trị trung bình giữa hai nhóm kháng và không kháng gamma globulin không khác nhau có ý nghĩa thống kê và vào khoảng 8 ngày. Ngày điều trị Không kháng Kháng p OR(KTC95 %) < 7 ngày 24 (17,5%) 13 (39,4%) 0,006 3,06 (1,34- 6,98) Điều trị trước 7 ngày của bệnh là yếu tố nguy cơ kháng γ globulin (p=0,006<0,05). Điều trị trước 7 ngày làm tăng nguy cơ kháng γ globulin lên gần 3 lần (khoảng tin cậy 95% là 1,34-6,98). Liên quan giữa kết quả huyết học với kháng γ globulin Xét nghiệm Không kháng Kháng P TưLM(mm/h) 93,8±28,7 97,5±30,8 0,532 BC(k/μl) 16,5±6,8 15,3±6,3 0,340 Hct(%) 31,6±3,9 28,7±3,8 0,000 TC(k/μl) 364,3±147,4 368,5±178,5 0,890 TQ(giây) 15,8±13,7 14,4±2,0 0,466 TCK(giây) 33,5±16,3 35,2±6,2 0,547 Fibrinogen(g/l) 4,7±1,4 4,6±1,3 0,816 TưLM tăng 135(97,8%) 33(100%) 0,393 Thiếu máu 92(66,7%) 27(81,8%) 0,089 BC tăng 61(44,5%) 15(45,5%) 0,923 Tiểu cầu tăng 47 (34,7%) 10 (30,1%) 0,905 TQ tăng 10(15,6%) 4(36,4%) 0,103 TCK tăng 9(14,1%) 1(10%) 0,727 Fibrinogen tăng 45(50,6%) 9(64,3%) 0,339 Hct trung bình ở nhóm kháng thấp hơn nhóm không kháng có ý nghĩa thống kê. Tỉ lệ bất thường kết quả huyết học giữa hai nhóm kháng và không kháng gamma globulin không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Liên quan giữa kết quả sinh hoá máu với kháng γ globulin Xét nghiệm Không kháng kháng P CRP(mg/l) 118,9±76,0 169,7±73,8 0,001 Bil tp(mg/dl) 0,48±0,72 0,54±0,77 0,723 Bil tt(mg/dl) 0,25±0,64 0,47±0,65 0,151 SGOT(U/L) 41,85±42,24 46,57±54,22 0,668 SGPT(U/L) 67,62±80,49 71,83±83,06 0,820 Na(mEq/l) 135,0±4,1 134,9±4,2 0,917 K(mEq/l) 4,4±0,8 4,4±0,7 0,827 Ca(mEq/l) 1,18±0,1 1,18±0,1 0,822 Protein(g/l) 61,8±11,6 66,9±12,8 0,160 Albumin(g/l) 22,9±7,2 31,1±8,3 0,348 Alpha 1(g/l) 4,4±2,1 6,8±7,8 0,266 Alpha 2(g/l) 10,6±2,9 10,2±2,1 0,564 Beta(g/l) 6,7±2,1 6,9±1,7 0,556 Gamma(g/l) 10,9±7,0 11,7±6,8 0,676 A/G 0,9±0,2 0,9±0,3 0,711 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Nhi Khoa 277 Xét nghiệm Không kháng kháng P CRP tăng 138 (100%) 33(100%) Bil tp tăng 5(5,6%) 3(15,8%) 0,120 Bil tt tăng 5(5,6%) 3(15,8%) 0,120 SGOT tăng 35(27,1%) 12(50,0%) 0,026 2,6(1,1-6,5) SGPT tăng 62(48,1%) 13(54,2%) 0,583 Xét nghiệm Không kháng kháng P Na giảm Bình thuờng tăng 101(76,5%) 30(22,7%) 1(8%) 25(80,6%) 5(16,1%) 1(3,2%) 0,404 K giảm bình thường tăng 12(9,1%) 103(78%) 17(12,9%) 3(9,7%) 24(77,4%) 4(12,9%) 0,995 Ca giảm bình thường tăng 26(19,7%) 68(51,5%) 38(28,8%) 8(25,8%) 15(48,4%) 8(25,8%) 0,750 Protein giảm bình thường tăng 9(8,1%) 92(82,9%) 10(9%) 1(6,7%) 12(80%) 2(13,3%) 0,858 Albumin giảm bình thường 36(32,1%) 76(67,9%) 4(26,7%) 11(73,3%) 0,668 Alpha 1 bình thường tăng 84(75,7%) 27(24,3%) 10(66,7%) 5(33,3%) 0,452 Alpha 2 bình thường tăng 88(79,3%) 23(20,7%) 12(80%) 3(20%) 0,948 Beta giảm bình thường tăng 7(6,3%) 101(91%) 3(2,7%) 1(6,7%) 14(93,3%) 0(0%) 0,812 Gamma giảm bình thường tăng 2(1,8%) 89(79,5%) 21(18,8%) 0(0%) 12(80%) 3(20%) 0,870 CRP ở nhóm kháng gamma globulin cao hơn nhóm không kháng có ý nghĩa thống kê. SGOT tăng làm tăng nguy cơ kháng gamma globulin lên 2,69 lần. Khả năng phân cắt các biến số liên tục có liên quan kháng γ globulin Yếu tố Điểm cắt Độ nhạy Độ chuyên Younden DTDĐC CRP(mg/l) 99,5 0,91 0,53 0,38 0,704 Hct(%) 31,2 0,57 0,84 0,42 0,690 DTDĐC : diện tích dưới đường cong. Dựa vào đường cong ROC, dựa trên độ nhạy, độ chuyên và chỉ số Younden, chúng tôi xác định được điểm cắt cho hai biến liên tục CRP và Hct lần lượt là 99,5 (mg/l) và 31,2 (%). Tóm tắt các yếu tố có liên quan kháng γ globulin Yếu tố Không kháng kháng p OR(KTC 95%) Phái nam 78(56,5%) 25(75,8%) 0,043 2,4(1,01- 5,70) < 7 ngày 24(17,5%) 13(39,4%) 0,006 3,06(1,34- 6,98) SGOT tăng 35(27,1%) 12(50,0%) 0,026 2,69(1,1- 6,53) CRP > 99,5mg/l 73(52,9%) 30(90,9%) 0,000 8,9(2,59- 30,55 ) Hct< 31,2% 59(43,1%) 28(84,8%) 0,000 7,4(2,69- 20,32 ) Các biến nhị giá gồm phái nam, điều trị trước 7 ngày, SGOT tăng, CRP>99,5 mg/l, Hct<31,2 % là các yếu tố liên quan kháng gamma globulin qua phân tích đơn biến. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ - Trẻ Em 278 Các yếu tố liên quan độc lập đến kháng γ globulin qua phân tích đa biến Yếu tố Hệ số Sai số chuẩn p OR hiệu chỉnh KTC (95%) SGOT tăng 1,24 1,83 0,019 3,46(1,23-9,77) CRP > 99,5 1,84 4,27 0,006 6,33(1,69-23,74) Hct< 31,2 1,63 2,90 0,004 5,12(1,69-15,54) Hằng số -5,23 BÀN LUẬN Tỉ lệ kháng gamma globulin Tỉ lệ kháng gamma globulin là 5,8%. Tỉ lệ này tương đương với báo cáo của Đoàn Tấn Huy Tâm trước đây (8,8%), nhưng lại thấp hơn so với một số nghiên cứu ngoài nước(3,4,6,9,10). Tác giả Adriana H. Tremoule t Tetsuya Sano Emiyasu Egami Đ.T.H. Tâm Chúng tôi Tỉ lệ 38,3% 19,6% 13% 8,8% 5,8% Sự khác biệt này theo chúng tôi là do khác nhau về định nghĩa kháng gamma globulin (còn sốt hoặc sốt tái phát trong vòng 48 giờ sau điều trị gamma globulin), do có nhiều trường hợp truyền gamma globulin trước ngày thứ năm của bệnh và do cách truyền gamma globulin khác với chúng tôi (2 g/kg trong hai ngày). Các yếu tố liên quan kháng gamma globulin Liên quan giữa các yếu tố dịch tể và kháng gamma globulin Tỉ lệ nam trong nhóm kháng γ globulin là 75,8% so với chỉ 56,5% trong nhóm không kháng (p=0,043). Các nghiên cứu của Hiromi Muta và Kimyasu cũng cho kết quả tương tự . Tác giả Không kháng Kháng p OR (KTC 95%) Kimiyasu Egami 62,9% 56,5% 0,4 Hiromi Muta 1,26(1,14-1,4) Sungho Cha Không ý nghĩa Chúng tôi 78(56,5%) 25(75,8%) 0,043 2,4(1,01-5,70) Điều này chứng tỏ giới tính nam mẫn cảm hơn với bệnh, có thể do sự khác biệt về hệ miễn dịch giữa nam và nữ. Về tuổi, không có sự khác biệt về tuổi giữa hai nhóm. Như vậy, mặc dù tuổi đã được chứng minh là có liên quan với tổn thương mạch vành nhưng lại không phải là yếu tố nguy cơ kháng gamma globulin. Liên quan giữa lâm sàng và kháng gamma globulin Các nghiên cứu trước đây hầu như không quan tâm đến triệu chứng lâm sàng, ngoại trừ triệu chứng sốt, vốn được xem là cột mốc cho vấn đề điều trị và theo dõi bệnh(15,17). Tuy nhiên, chúng tôi không ghi nhận sự khác biệt về triệu chứng lâm sàng giữa hai nhóm. Liên quan giữa ngày điều trị và kháng gamma globulin Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh điều trị IVIG trong vòng 4 ngày đầu của bệnh là yếu tố nguy cơ kháng γ globulin. Vì vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh nhi được điều trị từ ngày thứ 5 trờ về sau, trung bình là ngày thứ 8 (8,13±2,1 ngày trong nhóm không kháng và 8,09±2,76 ngày trong nhóm kháng). Tuy nhiên trong quá trình điều trị, chúng tôi nhận thấy đối với những trẻ được điều trị IVIG vào ngày thứ 5 và 6 của bệnh có tỉ lệ kháng γ globulin khá cao nên khi phân tích kết quả chúng tôi chia trẻ thành hai nhóm: điều trị trước 7 ngày của bệnh và từ 7 ngày trở về sau. Kết quả cho thấy điều trị trước 7 ngày của bệnh làm tăng nguy cơ kháng γ globulin lên 3 lần (1,34-6,98). Tỉ lệ được điều trị trước 7 ngày trong nhóm kháng γ globulin cao hơn nhóm không kháng có ý nghĩa thống kê. 13 trong tổng số 31 trường hợp kháng gamma globulin so với 41 trong tổng số 138 trường hợp không kháng được điều trị trước ngày thứ 7 của bệnh (39,4% so với 17,5%, p=0,006) . Liên quan giữa kết quả huyết học và kháng gamma globulin Hct thấp làm tăng nguy cơ kháng γ globulin. Hct ở nhóm kháng là 28,7±3,8 (%) thấp hơn nhóm không kháng là 31,6±3,9 (%) có ý nghĩa thống kê (p=0,000<0,05). Vẽ đường cong ROC, điểm cắt cho biến số liên tục này được xác định là Hct< 31,2 (%) (độ nhạy 57%, độ chuyên 84%; diện tích dưới đường cong ROC 0,69; chỉ số Younden 0,42). Theo đó, Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Nhi Khoa 279 Hct dưới 31,2% sẽ làm tăng nguy cơ kháng gamma globulin lên 7,4 lần với khoảng tin cậy 95% là 2,6-20,3. Liên quan giữa kết quả sinh hoá máu với kháng γ globulin CRP ở nhóm kháng là 169,7 ±73,8 mg/l cao hơn nhóm không kháng là 118,9±76 mg/l có ý nghĩa thống kê (p=0,001). Nghiên cứu của Tetsuya Sano và của Adriana H.Tremoulet cũng cho kết quả tương tự. Kobayashi và Kimiyasu Egami qua phân tích hồi quy đa biến lần lượt ghi nhận CRP>100 và >80 mg/l là yếu tố tiên lượng kháng γ globulin(13,6,7,17). Điều này chứng tỏ CRP càng cao, phản ứng viêm càng nặng, bệnh càng nặng và do đó nguy cơ kháng γ globulin càng cao. Vẽ đường cong ROC, điểm cắt được xác định là CRP >99,5 mg/l (độ nhạy 91%; độ đặc hiệu 53%; diện tích dưới đường cong ROC 0,7; chỉ số Younden là 0,38). Theo đó, CRP trên 99,5 mg/l sẽ làm tăng nguy cơ kháng gamma globulin lên 8,9 lần với khoảng tin cậy 95% là 2,5-30,5. Ngoài ra, SGOT tăng cũng có liên quan kháng γ globulin (27,1% bệnh nhi trong nhóm không kháng có tăng SGOT so với 50% của nhóm kháng). SGOT tăng làm tăng nguy cơ kháng γ globulin lên 2,7 lần (khoảng tin cậy 95% là 1,1-6,5). Trên lý thuyết, các transaminase có thể tăng nhẹ đến trung bình trong bệnh Kawasaki(12,14,20). Dù do viêm mạch máu gây thiếu máu và hoại tử tế bào gan hay do bản thân hiện tượng viêm gây tăng men gan thì SGOT vẫn thể hiện mức độ trầm trọng của phản ứng viêm và vì vậy giúp tiên lượng kháng γ globulin. Các yếu tố liên quan độc lập với kháng γ globulin qua phân tích đa biến Các biến số đưa vào phân tích đa biến là những biến số có ý nghĩa hoặc gần có ý nghĩa khi phân tích đơn biến (p<0,25) hoặc những biến số mà chúng ta nghĩ có liên quan đến biến phụ thuộc. Như vậy dựa vào kết quả phân tích đơn biến ở trên, chúng tôi chọn các biến điều trị trước 7 ngày (p=0,006), CRP>99,5 mg/l (p=0,000), Hct<31,2% (p=0,000), giới nam (p=0,043), SGOT tăng (p=0,026), gan to (p=0,250), ho-sổ mũi (p=0,095), bilirubin toàn phần tăng (p=0,12) và bilirubin trực tiếp tăng (p=0,12) để đưa vào phân tích đa biến, từ đó loại các yếu tố gây nhiễu và xác định yếu tố liên quan độc lập. Khi đưa vào phân tích đa biến, chúng tôi ghi nhận OR hiệu chỉnh không lệch nhiều với OR trong phân tích đa biến và khoảng tin cậy 95% của OR hiệu chỉnh này cũng không quá rộng. Điều này chứng tỏ mẫu của chúng tôi là đủ lớn và kết quả thu được có khả năng áp dụng cao. Sau khi loại dần các biến số không có ý nghĩa, chúng tôi xác định được các biến số liên quan độc lập với kháng gamma globulin gồm SGOT tăng, CRP trên 99,5 mg/l và Hct dưới 31,2 phần trăm là yếu tố liên quan độc lập đến kháng gamma globulin. KẾT LUẬN Tỉ lệ kháng gamma globulin trong dân số là 5,8%. Các yếu tố có liên quan kháng gamma globulin là: giới nam, điều trị trước ngày thứ 7 của bệnh, Hct giảm; CRP, SGOT tăng. Các yếu tố liên quan độc lập là SGOT tăng, CRP trên 99,5 mg/l và Hct dưới 31,2 phần trăm. Với các biến số là các dữ liệu rất dễ thu thập trên thực tế như SGOT, CRP và Hct, chúng tôi nghĩ có thể áp dụng trên thực tế lâm sàng để phân loại những trẻ có nguy cơ kháng gamma globulin. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Benseler SM., McCrindle BW. (2005). “Infections and Kawasaki Disease: Implications for Coronary Artery Outcome”. Pediatrics 116(6): 760-766. 2. Egami K, Muta H, Ishii M, Suda K, Sugahara Y, Iemura M, Matsuishi T (2006). “Prediction of resistance to intravenous immunoglobulin treatment in patients with Kawasaki disease”. J Pediatr 149(2):237-40. 3. Fukunishi M, Kikkawa M, Hamana K, et al. (2000). "Prediction of non-responsiveness to intravenous high-dose g-globulin therapy in patients with Kawasaki disease at onset." J Pediatr 137: 172-6. 4. Hiromi M, Masahiro I, Jun F (2006). “ Risk factors associated with the need for additional intravenous gamma-globulin therapy for Kawasaki disease ”. Acta Paediatrica 95(2):189-193. 5. Hiromi M, Masahiro I, Kimiyasu E, et al. (2004). "Early Intravenous Gamma-Globulin Treatment For Kawasaki Disease: The Nationwide Surveys In Japan." J Pediatr 144: 496-9. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ - Trẻ Em 280 6. Kanegaye JT, Wilder MS (2009). “Recognition of a Kawasaki Disease Shock Syndrome”. Pediatrics 123(5):783-789. 7. Kobayashi T, Inoue Y, Takeuchi K, Okada Y, Tamura K, Tomomasa T, Kobayashi T, Morikawa A (2006). “Prediction of intravenous immunoglobulin unresponsiveness in patients with Kawasaki disease”. Circulation 113(22):2606-12. 8. Kuijpers TW (2006). “A multicenter prospective randomized trial of corticosteroids in primary therapy for Kawasaki disease: Clinical course and coronary artery outcome”. Journal of Pediatrics 149(3). 9. Mariko F, Makiko K, Takashi O (2000). “Prediction of non- responsiveness to intravenous high-dose γ-globulin therapy in patients with Kawasaki disease at onset”. J Pediatr 137:172-6. 10. Muta H, Ishii M, Furui J, Nakamura Y, Matsuishi T (2006). “Risk factors associated with the need for additional intravenous gamma-globulin therapy for Kawasaki disease”. Acta Paediatr 95(2):189-93. 11. Newburger JW, Burns JC, Beiser AS, Loscalzo J (1991). “Altered lipid profile after Kawasaki syndrome”. Circulation 84:625-631. 12. Newburger JW, Takahashi M, et al (2004).”Diagnosis, Treatment, and Long-Term Management of Kawasaki Disease: A Statement for Health Professionals From the Committee on Rheumatic Fever, endocarditis, and Kawasaki Disease, Council on Cardiovascular Disease in the Young, American Heart Association". Circulation 110:2747-2771. 13. Newburger JW., Taubert KA., Shulman ST. (2003). “Summary and abstracts of the seventh international kawasaki disease symposium december 4–7, 2001, hakone, japan”. Pediatric research 53(1). 14. Sugimura T, Kato H, Inoue O (2002). “Intravascular ultrasound of coronary arteries in children. Assessment of the wall morphology and the lumen after Kawasaki disease”. Archives of Disease in Childhood 86:286-290. 15. Sungho Cha,Minjeong Yoon, Yongjoo Ahn, Miyoung Han,Kyung-Lim Yoon 2008.“Risk Factors for Failure of Initial Intravenous Immunoglobulin treatment in Kawasaki Disease”.Korean Med 23:718-22. 16. Tetsuya S, Shunji K, Kouji M, et al (2007). “Prediction of non- responsiveness to standard high-dose Gamma-globulin therapy in patients with acute Kawasaki Disease before starting initial treatment”. Eur J Pediatr 166:131–137. 17. Tohru K, Yoshinari I (2006). “Prediction of Intravenous Immunoglobulin Unresponsiveness in Patients With Kawasaki Disease”. Circulation 113:2606-2612. 18. Tohru K, Yoshinari I, Kazuo T, et al (2006). “Prediction of intravenous immunoglobulin unresponsiveness in patients with kawasaki disease”. Circulation 113:2606-2612. 19. Yoshiyuki M, Yasuo O, Kensuke H, et al. (2000). "Coronary risks after high dose g-globulin in children with Kawasaki disease." Pediatr Internal. 42(5): 464-9. 20. Yosikazu N, Mayumi Y, Ritei U, et al. (2004). "Use of laboratory data to identify risk factors of giant coronary aneurysms due to Kawasaki disease." Pediatrics International 46: 33-38.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfyeu_to_lien_quan_khang_gamma_globulin_o_benh_nhi_kawasaki.pdf