Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh

Kết luận và hạn chế của nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại để phát triển các giả thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động xuất khẩu tại TP. HCM. Kết quả hồi quy từ dữ liệu khảo sát trên 200 DN xuất khẩu tại TP. HCM cho thấy các nhân tố khoảng cách kinh tế, chính sách xuất khẩu, GDP Việt Nam, dân số, chất lượng hàng hóa, tỷ giá hối đoái có tác động tích cực với hoạt động xuất khẩu của các DN. Bên cạnh đó nhân tố giá xuất khẩu, hiệp định đối tác, khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu trên địa bàn TP. HCM. Kết quả này phù hợp với cơ sở lý thuyết về lực hấp dẫn trong thương mại, điều này cho thấy rằng để nâng cao hiệu quả xuất khẩu thì các DN cần tập trung nâng cao trình độ sản xuất, ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu đặt ra về chất lượng sản phẩm xuất khẩu của các nước đối tác. Hơn nữa, Nhà nước cũng cần tạo dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, có các chính sách thúc đẩy hỗ trợ, tạo điều kiện cho các DN xuất nhập khẩu tại TP. HCM.

pdf13 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 16 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
69 © Học viện Ngân hàng ISSN 1859 - 011X Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng Số 220- Tháng 9. 2020 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh1 Đỗ Hữu Hải Tăng Thị Minh Nguyệt Bùi Hồng Đăng Bùi Tấn Hùng Ngày nhận: 07/06/2020 Ngày nhận bản sửa: 11/09/2020 Ngày duyệt đăng: 22/09/2020 Bài viết này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) trên cơ sở kế thừa mô hình hấp dẫn chuẩn tắc. Tác giả thực hiện khảo sát khoảng 200 doanh nghiệp (DN) xuất nhập khẩu trên địa bàn TP. HCM. Từ nghiên cứu cho thấy nhân tố Khoảng cách kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động xuất khẩu của DN tại TP. HCM vì beta bằng 0.364 lớn nhất trong các hệ số Determinants of export performance in Ho Chi Minh City Abstract: This article examines the factors affecting exports of Ho Chi Minh City based on the application gravity model on trade. The authors conducted a survey of about 200 import-export enterprises in the HCMC. From the study, it shows that the factor Economic gap has the strongest influence on the export performance of enterprises in HCMC because beta is the largest in the beta coefficient (0.364), followed by the factor of Export Policy (0.338), the GDP of Vietnam (0.230), the population (0.185), the quality of Goods (0.128), the exchange Rate (0.096)... From there, indicate the geographical distance, export prices have a negative impact on the export performance; and quality of goods, the economic gap, the exchange rate, the export support policy, the GDP of Vietnam boosts export activities. This result suggests important policy implications for promoting exports in HCMC. Keywords: Export performance, determinants, gravity model. Hai Huu Do Email: haidh1975@gmail.com Nguyet Thi Minh Tang Email: nguyettang1306@gmail.com Dang Bui Hong Email: hongdang848@gmail.com Hung Tan Bui Email: hungbui0612@gmail.com Organization of all: Ho Chi Minh City University of Food Industry Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP. HCM 1 Nghiên cứu này do Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh bảo trợ và cấp kinh phí theo Hợp đồng số 149/HĐ-DCT năm 2019. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 220- Tháng 9. 202070 beta, tiếp theo là nhân tố Chính sách xuất khẩu (0.338), GDP Việt Nam (0.230), Dân số (0.185), Chất lượng hàng hóa (0.128), Tỷ giá hối đoái (0.096)... Từ đó chỉ ra khoảng cách điạ lý, giá xuất khẩu có tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu; và chất lượng hàng hoá, khoảng cách kinh tế, tỷ giá hối đoái, chính sách hỗ trợ xuất khẩu, GDP của Việt Nam thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Kết quả này gợi ra những hàm ý quan trọng về mặt chính sách nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Từ khóa: Hoạt động xuất nhập khẩu, nhân tố ảnh hưởng, mô hình hấp dẫn chuẩn tắc 1. Giới thiệu Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước và là thành phố/ tỉnh có giá trị xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Do đó, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu tại TP. HCM là rất cần thiết. Còn tồn tại nhiều nút thắt đối với DN xuất khẩu tại TP. HCM như chi phí lao động tăng, chi phí logistics cao, thủ tục hành chính rườm rà, kém linh động (Sài Gòn đầu tư, 2019). Qua kết quả phỏng vấn và khảo sát 200 DN xuất khẩu tại địa bàn TP. HCM, với các đối tượng khảo sát chủ yếu là chuyên viên xuất nhập khẩu (chiếm 68,5% trên tổng số phiếu điều tra), tiếp đến là cấp quản lý và giám đốc chiếm tỷ lệ bằng nhau (13,5%) và cuối cùng là chủ DN (chiếm 4,5% trên tổng số) cho thấy các vấn đề làm hạn chế tăng trưởng xuất nhập khẩu tại TP. HCM (Bảng 1). Bảng 1 cho thấy các DN xuất khẩu tại TP. HCM gặp phải khá nhiều rủi ro, đặc biệt là sự thiếu thông tin trong quá trình làm thủ tục hải quan. Theo dữ liệu điều tra, việc vướng mắc trong quá trình làm thủ tục hải quan khiến cho các đơn hàng của DN xuất khẩu gặp nhiều trở ngại, tốn chi phí mà mất nhiều thời gian. Vấn đề này chiếm đến 97/200 phiếu điều tra DN (tỷ lệ 48,5%) cho thấy đây là một trong những khó khăn hàng đầu còn tồn đọng và chưa được giải quyết triệt để. Mặc dù Cục Hải quan TP. HCM đã bắt đầu triển khai hải quan điện tử từ tháng 9/2018 nhưng tính đến nay các DN vẫn còn nhiều bất cập trong việc ứng dụng tờ khai điện tử này. Nguyên nhân là do hệ Bảng 1. Các vấn đề thường gặp phải khi doanh nghiệp xuất khẩu tại TP. Hồ Chí Minh Tiêu chí Số quan sát Tỷ trọng (%) Chưa đủ điều kiện về chất lượng, nhãn mác, bảo quản sản phẩm 25 12,5 Mất thời gian làm thủ tục hải quan 97 48,5 Chi phí cao (kho bãi, vận chuyển, thủ tục, ) 23 11,5 Thiếu các giấy chứng nhận, kiểm định từ các bộ ngành 35 17,5 Vay vốn tín dụng xuất khẩu 13 6,5 Các vấn đề khác 7 3,5 Tổng cộng 200 100 Nguồn: Dữ liệu khảo sát của nhóm Tác giả (2019) ĐỖ HỮU HẢI - TĂNG THỊ MINH NGUYỆT - BÙI HỒNG ĐĂNG - BÙI TẤN HÙNG Số 220- Tháng 9. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 71 thống mạng hải quan vẫn chưa được liên kết với các cơ quan quản lý nhà nước, bộ, ngành... nên nhiều khâu vẫn phải kê khai thủ công. Bên cạnh đó, mã hóa danh mục hàng hóa vẫn chưa được cập nhật đầy đủ, nên hệ thống vẫn chưa xử lý tự động, nhanh chóng được. Về phía DN đã quen với việc khai báo thủ công, nên khi khai báo tờ khai điện tử vẫn còn thiếu sót thông tin và chưa chính xác. Tiếp theo là vấn đề về thiếu các giấy chứng nhận, giấy kiểm định từ các bộ, ngành chiếm đến 17,5%, nguyên nhân chủ yếu bởi vì các bộ, ngành, cơ quan kiểm soát hàng hóa vẫn còn bị chồng chéo, dẫn đến một mặt hàng phải chịu kiểm tra bởi hai hay nhiều cơ quan cùng lúc, gây khó khăn và chậm trễ cho DN. Kế tiếp là chưa đủ điều kiện về chất lượng sản phẩm chiếm khoảng 12,5% trên tổng số phiếu điều tra do sai sót về các điều kiện bảo quản sản phẩm hay bao bì, nhãn mác của nước nhập khẩu. Bên cạnh đó là các khó khăn về chi phí (chiếm 11,5%) và vốn tín dụng xuất khẩu (6,5%). Cuối cùng là các vấn đề khác như hệ thống giao thông nghèo nàn, thiếu hỗ trợ pháp lý định hướng kinh doanh, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ kém Mục tiêu của bài viết này nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của các DN xuất khẩu trên địa bàn TP. HCM để tìm ra những hạn chế làm cản trở hoạt động xuất nhập khẩu của các DN, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu. 2. Tổng quan, mô hình và giả thuyết nghiên cứu Mô hình lực hấp dẫn đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước sử dụng để trình bày mối quan hệ thương mại song phương giữa các quốc gia với nhau, các nhà kinh tế học đầu tiên ứng dụng mô hình này là Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) đã sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại quốc tế. Sau đó đã có rất nhiều nhà kinh tế học trong và ngoài nước ứng dụng mô hình này trong nghiên cứu của mình. Hans Linneman (1996) trong bài nghiên cứu về “Dòng chảy thương mại quốc tế” đã phân loại các yếu tố chi phối thương mại thành ba biến: tổng nguồn cung tiềm năng của một nước xuất khẩu trên thị trường; tổng nhu cầu của một nước nhập khẩu trên thị trường; và các yếu tố đại diện cho “sức cản” đối với dòng chảy thương mại giữa các quốc gia. Đào Ngọc Tiến (2009) trong nghiên cứu về thương mại quốc tế của Việt Nam đã kết luận rằng tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, dân số của các nước nhập khẩu, khoảng cách kinh tế giữa Việt Nam và các nước nhập khẩu, sự mất giá của đồng nội tệ, các hiệp định thương mại tự do đã ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu Việt Nam. Bên cạnh đó, các tác giả khác như Ngô Thị Mỹ (2016), Mai Thị Cẩm Tú (2016), Trần Lan Hương (2017) cũng đã cho ra các kết luận tương tự dựa trên mô hình lực hấp dẫn ban đầu. Hai nhà khoa học Tinbergen (1962) và Poyhonen (1963) đã xây dựng phương trình giá trị xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu (QGXK) A sang quốc gia nhập khẩu (QGNK) B dựa vào mô hình lực hấp dẫn giữa hai vật của nhà vật lý học Newton (1687) cho thấy, hoạt động thương mại giữa hai quốc gia chịu ảnh hưởng bởi quy mô nền kinh tế (GDP hoặc GND) và khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia, tuy nhiên vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi cho đến nghiên cứu của Bergstrand (1985) biểu diễn dưới dạng phương trình như sau: LogTrade AB = ꞵ 0 + ꞵ 1 Log(GPD A ) + ꞵ 2 Log(GPD B ) - ꞵ 3 Log(D AB ) + Σ3 n=1 ꞵ 4 Log(A AB ) + ε Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 220- Tháng 9. 202072 Trong đó: LogTrade AB : Khối lượng hoặc giá trị xuất khẩu giữa hai QGXK A và QGNK B GPD A : GDP của quốc gia A (GDP của QGXK A phản ánh lượng cung xuất khẩu hàng hóa của quốc gia A) GPD B : GDP của quốc gia B (GDP của QGNK B phản ánh lượng cầu nhập khẩu hàng hóa của quốc gia B). D AB : Khoảng cách địa lý giữa hai quốc gia A và B (liên quan đến chi phí vận chuyển hàng hóa) A AB : Nhóm các yếu tố hạn chế (Giá xuất khẩu, khoảng cách về kinh tế, chất lượng sản phẩm) hoặc thuận lợi (Dân số gộp chung của 2 quốc gia, Tỷ giá hối đoái, Hiệp định đối tác kinh tế, Chính sách hỗ trợ xuất khẩu) trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa giữa hai quốc gia A và B. Từ nghiên cứu ban đầu, các nhà nghiên cứu sau đó bổ sung thêm các biến giải thích khác, đó là: Dân số, chính sách xuất khẩu, khoảng cách địa lý, tương đồng về văn hóa giữa các nước, cùng sử dụng chung ngôn ngữ, cùng sử dụng chung loại tiền tệ, thành viên của các tổ chức thương mại... Sử dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu về thương mại quốc tế, các nhân tố chính ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gia sẽ bao gồm: GDP, Dân số, Chất lượng sản phẩm, Giá xuất khẩu, Khoảng cách về kinh tế, Khoảng cách về địa lý, Tỷ giá hối đoái, Chính sách hỗ trợ xuất khẩu, Việc tham gia các khu mậu dịch tự do (APEC) và tổ chức quốc tế (WTO) Kế thừa mô hình lực hấp dẫn và áp dụng cho mô hình hồi quy tuyến tính (OLS) cho nghiên cứu, tác giả giới hạn phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu của DN trên địa bàn TP HCM. Theo đó, các giả thuyết được đưa ra đối với các biến như sau: Biến phụ thuộc: Hoạt động xuất khẩu của DN trên địa bàn TP. HCM. Biến độc lập: H1: GDP của Việt Nam có tác động tích cực tới hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Theo luật cầu cho rằng, các nhân tố khác không đổi, đối với hàng hóa thông thường khi mức thu nhập hoặc mức thu nhập bình quân tăng thì lượng cầu tiêu dùng tăng và ngược lại. Do đó, khi GDP trong nước tăng sẽ làm cầu trong nước tăng, nên giá trị sản xuất trong nước sẽ tăng, dẫn đến lượng cung hàng hóa tăng cao làm dư thừa hàng hóa, qua đó kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tuy nhiên, một số tác giả nghiên cứu và cho kết quả, GDP nước xuất khẩu tác động ngược chiều với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Dựa vào bối cảnh nghiên cứu, tác giả tiến hành nghiên cứu theo hướng GDP nước xuất khẩu tác động cùng chiều với kim ngạch xuất khẩu theo như các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra của M. Sevela (2002), Wei và các cộng sự (2012), Trần Lan Hương (2017)... H2: Dân số gộp chung của Việt Nam và quốc gia nhập khẩu có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Khi dân số tăng thì quy mô nguồn lao động tăng dẫn đến tăng khả năng sản xuất và tăng lượng hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, khi dân số tăng nhanh thể hiện lượng cầu hàng hóa trong nước tăng, dẫn đến không còn dư thừa hàng hóa, các DN không cần phải cạnh tranh đưa hàng hóa sang nước ngoài nữa, từ đó kìm hãm sự phát triển của hoạt động xuất khẩu. Xét thấy sự mâu thuẫn giữa các nghiên cứu ĐỖ HỮU HẢI - TĂNG THỊ MINH NGUYỆT - BÙI HỒNG ĐĂNG - BÙI TẤN HÙNG Số 220- Tháng 9. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 73 trước đây và sự giống nhau giữa xu hướng tác động của biến dân số lên nước nhập khẩu và xuất khẩu, áp dụng cho bối cảnh nghiên cứu tại TP. HCM, tác giả kế thừa kết quả nghiên cứu của Wei và các cộng sự (2012), Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015) với quan điểm dân số gộp chung của cả hai quốc gia có tác động tích cực đến kim ngạch xuất khẩu. H3: Chất lượng sản phẩm có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Trong hoạt động xuất khẩu, chất lượng mặt hàng xuất khẩu thường bị chi phối bởi các nhân tố: chênh lệch về trình độ công nghệ, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng ở từng khu vực địa lý khác nhau, tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm Việc tạo ra một sản phẩm có chất lượng cao, độc đáo và phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của người tiêu dùng ở mỗi vùng địa lý khác nhau, đạt tiêu chuẩn quốc tế và có dịch vụ đi kèm tốt sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh cho DN khi tiến hành hoạt động xuất khẩu (Trần Lan Hương, 2017). H4: Giá xuất khẩu trong nước tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Trên thế giới có nhiều quốc gia cùng xuất khẩu một loại hàng hóa như nhau, thông thường quốc gia nhập khẩu sẽ lựa chọn quốc gia xuất khẩu nào có giá cả thấp nhất (Mai Thị Cẩm Tú, 2016). H5: Khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Khoảng cách giữa các nước càng lớn sẽ làm tăng chi phí vận chuyển, thời gian giao hàng cũng như ảnh hưởng lớn đến chất lượng của sản phẩm. Do đó các nước hay chú trọng đến giao lưu thương mại đối với các nước có cùng đường biên giới hay các nước trong cùng khu vực với nhau, theo đó khoảng cách địa lý có tác động ngược chiều đến hoạt động xuất khẩu của một quốc gia (Võ Văn Dứt, 2016). H6: Khoảng cách kinh tế có tác động tích cực đến hoạt động hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Đây là khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa hai nước có mối quan hệ thương mại với nhau. Các quốc gia phát triển chủ yếu tập trung phát triển các công nghệ hiện đại và chuyển giao công nghệ sang các nước đang phát triển để sản xuất và nhập sản phẩm hoàn chỉnh trở lại để phân phối (Võ Văn Dứt, 2016), vì chi phí sản xuất tại các nước đang phát triển có giá rẻ hơn. Bên cạnh đó, các quốc gia phát triển thường có xu hướng quan hệ thương mại với những quốc gia có nền kinh tế tương đồng mình để phân phối những sản phẩm công nghệ cao, giúp duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình. H7: Tỷ giá hối đoái thực giữa Việt Nam và nước đối tác có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Tỷ giá hối đoái tác động cùng chiều với hoạt động xuất khẩu, nếu tỷ giá hối đoái thực tăng sẽ làm cho xuất khẩu hàng hóa trong nước tăng, nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài giảm và ngược lại. Thực tế khi đồng nội tệ của một quốc gia giảm so với các ngoại tệ khác tức là giá cả của hàng hóa xuất khẩu tính theo ngoại tệ sẽ giảm (Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ, 2015), do đó lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá nguyên vật liệu đầu vào thấp hơn, chi phí nhân công rẻ hơn làm cho giá thành sản phẩm rẻ hơn, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng nhanh được các mặt hàng xuất khẩu của mình. H8: Chính sách xuất khẩu của Nhà nước có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Trong nền kinh tế hiện đại, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng trong Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 220- Tháng 9. 202074 việc giúp tăng cung hàng xuất khẩu thông qua các chính sách hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu. H9: Các hiệp định đối tác kinh tế có tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu của TP. HCM. Nghiên cứu lý thuyết của mô hình lực hấp dẫn thương mại quốc tế và nghiên cứu thực nghiệm của Konstantinos và cộng sự (2010) cũng đã chỉ ra vai trò của các hiệp định đa phương, song phương đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giữa hai hay nhiều quốc gia với nhau. 3. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng được kế thừa từ các nghiên cứu trước đây, với bản câu hỏi được xây dựng bằng cách phỏng vấn (nhằm xác định các nhân tố) và phiếu điều tra dựa trên sử dụng các thang đo Likert từ 1 đến 5 (từ rất không cải thiện đến rất cải thiện) nhằm kiểm định các nhân tố và đánh giá mức độ ảnh hưởng). Cụ thể, đối tượng điều tra thông qua phỏng vấn các chuyên gia và phỏng vấn trực tiếp đối với các chủ DN, quản lý, chuyên viên XNK của 260 DN (mỗi DN 1 phiếu) có hoạt động XNK tại TP. HCM trong thời gian từ tháng 4/2019 đến tháng 12/2019. Sau khi loại trừ các bản câu hỏi không hợp lệ (những bản có cùng một câu trả lời giống nhau cho phần lớn các câu hỏi) để làm sạch dữ liệu, cuối cùng chúng tôi thu được 200 bản hợp lệ trong tổng số 260 bản thu được từ người trả lời. Câu hỏi phòng vấn và câu hỏi trên phiếu khảo sát được thiết kế nhằm đưa ra các kết quả về các nhân tố được chọn nghiên cứu, gồm: thông tin cá nhân; trình độ; loại hình DN xuất khẩu hay nhập khẩu; và các câu hỏi đánh giá các nhân tố như Bảng 2 Ngoài ra kết quả thu được từ khảo sát, nhóm tác giả còn sử dụng thông tin từ dữ liệu thứ cấp qua các số liệu, báo cáo, tài nguyên có sẵn được thu thập từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, Cục Hải Quan TP. HCM, Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Biểu thuế Xuất Nhập khẩu. Để đánh giá chất lượng thang đo và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, phân tích hồi quy được thực hiện trên phần mềm SPSS (phiên bản 23). Tác giả đã áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính (OLS) với các biến độc lập và biến phụ thuộc được đưa vào nghiên cứu, mà ở đó có các thang đo/ các biến được sử dụng có thể đảo chiều cho phù hợp với mục đích nghiên cứu. Kỹ thuật này phù hợp với bản chất khám phá của nghiên cứu. 4. Kết quả nghiên cứu Trước khi tiến hành phân tích hồi quy tác giả chạy kết quả phân tích Cronbach Alpha trên 9 thang đo với 40 biến quan sát nhằm tìm ra hệ số tương quan giữa các biến và hệ số tương quan giữa tổng điểm và các biến cho một tập hợp các biến quan sát; giữ lại các biến có sự tương quan mạnh với tổng số điểm đồng thời loại bỏ các biến không đảm bảo độ tin cậy trong thang đo và thang đo được chấp nhận khi có độ tin cậy alpha từ 0,6 trở lên (Đỗ Hữu Hải, 2015). Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo- hệ số Cronbach Alpha đều đạt giá trị cao với tất cả thang đo, cụ thể: GDPVN (= 0,888); DS (= 0,935); CLHH (= 0,621); GXK (= 0,846); KCDL (= 0,841); KCKT (= 0,758); TGHD (= 0,825); CSXK (= 0,725); HDDT (= 0,914). Giá trị kiểm định Kaiser-Meyer- Olkin (KMO) là 0,824 và phương sai tích lũy giải thích 75,99% tổng phương sai. Theo đó, ta có mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại TP. HCM (Sơ đồ 1). ĐỖ HỮU HẢI - TĂNG THỊ MINH NGUYỆT - BÙI HỒNG ĐĂNG - BÙI TẤN HÙNG Số 220- Tháng 9. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 75 Trong bài nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng phương pháp định lượng thông qua mô hình lực hấp dẫn để đo lường sự tác động của các nhân tố đến hoạt động xuất nhập khấu của Việt Nam. Vì mô hình lực hấp dẫn có ưu điểm là có thể xem xét đồng thời các nhân tố ảnh hưởng đến cung (của QGXK), các nhân tố ảnh hưởng đến cầu Bảng 2. Diễn giải các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu Khái niệm Tên biến quan sát Thang đo Nguồn tham khảo Chất lượng hàng hóa (CLHH) Q31_1: Sử dụng quá nhiều chất bảo quản hóa học Likert 1-5 Wei và Cộng sự (2012); Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2016); Q31_2:Thiếu các cơ sở bảo quản sản phẩm Likert 1-5 Q31_3: Sức mua hàng hóa của nước nhập khẩu tăng Likert 1-5 Q31_4: Thiếu tiếp cận đầu vào cho sản xuất Likert 1-5 Q31_5: Thực hiện đúng quy định về chất lượng hàng hóa Likert 1-5 Giá xuất khẩu (GXK) Q31_6: Giảm giá nguyên vật liệu đầu vào Likert 1-5 Haleem & Cộng sự (2005); Võ Văn Dứt (2016); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_7: Giảm thuế nhập khẩu hàng hóa Likert 1-5 Q31_8: Chi phí vận chuyển và lưu kho cao Likert 1-5 Khoảng cách địa lý (KCDL) Q31_9: Ảnh hưởng đến thời gian bảo quản sản phẩm Likert 1-5 Võ Văn Dứt (2016); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_10: Vận chuyển qua đường hàng không hạn chế hoặc chi phí rất đắt Likert 1-5 Q31_11: Hệ thống giao thông đường bộ hạn chế Likert 1-5 Q31_12: Chi phí nhập khẩu nguyên liệu sản xuất cao Likert 1-5 Q31_13: Rắc rối với bên thứ ba trong quá cảnh hàng hóa Likert 1-5 Khoảng cách kinh tế (KCKT) Q31_14: Hạn chế trình độ áp dụng công nghệ Likert 1-5 Võ Văn Dứt (2016); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017); Trần Nhuận Kiên và Ngô Thị Mỹ (2015) Q31_15: Tiếp cận thông tin yếu, không có điểm giải đáp thắc mắc Likert 1-5 Q31_16: Thu nhập bình quân đầu người tăng Likert 1-5 Q31_17: Khác biệt về văn hóa tiêu dung Likert 1-5 Q31_18: Thiếu các thủ tục điện tử Likert 1-5 Tỷ giá hối đoái (TGHD) Q31_19: Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Likert 1-5 Haleem & Cộng sự (2005); Võ Văn Dứt (2016); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_20: Có sự can thiệp của chính phủ vào đồng nội tệ Likert 1-5 Q31_21: Các khoản tài trợ vốn xuất khẩu từ chính phủ Likert 1-5 Q31_22: Lãi suất tín dụng xuất khẩu cao Likert 1-5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 220- Tháng 9. 202076 (của QGNK) và các nhân tố gây cản trở thương mại giữa hai quốc gia. Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để phân tích mối quan hệ giữa biến phụ thuộc Y (Biến phụ thuộc): các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu và X (Biến độc lập): tác giả đưa ra dự đoán những nhân tố có thể tác động đến biến phụ thuộc Y, từ đó tiến hành ước lượng tác động của từng nhân tố đến biến Y. Do các thang đo đều đảm bảo độ tin cậy với hệ số Cronbach Alpha cao nên tác giả tiến hành phân tích hồi quy. Kết quả ở Bảng 3 cho thấy trị số thống kê F được tính từ R bình phương của mô hình với mức ý nghĩa Khái niệm Tên biến quan sát Thang đo Nguồn tham khảo Chính sách xuất khẩu (CSXK) Q31_23: Thực thi pháp luật không hiệu quả, ví dụ giải quyết tranh chấp hoặc thực thi hợp đồng Likert 1-5 Haleem & Cộng sự (2005); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_24: Thiếu các phòng kiểm định được công nhận Likert 1-5 Q31_25: Tham nhũng, ví dụ hối lộ Likert 1-5 Q31_26: Cơ chế thông quan phức tạp, ví dụ trong hải quan Likert 1-5 Hiệp định đối tác (HDDT) Q31_27: Sức ép cạnh tranh do hội nhập kinh tế mang lại Likert 1-5 Haleem & Cộng sự (2005); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_28: Cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu Likert 1-5 Q31_29: Giảm bớt sức cạnh tranh từ thị trường quốc tế Likert 1-5 Q31_30: Hạn chế hoặc thiếu tiếp cận với các dịch vụ tài trợ thương mại Likert 1-5 Q31_31: Giảm thuế nhập khẩu hàng hóa Likert 1-5 GDP (GDP) Q31_32: Thu nhập của người dân Likert 1-5 Haleem & Cộng sự (2005); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_33: Mức chi tiêu cải thiện Likert 1-5 Q31_34: Giá trị xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu Likert 1-5 Q31_35: Sức mua hàng hóa của nước nhập khẩu tăng Likert 1-5 Dân số (DS) Q31_36: Nguồn cầu hàng hóa tăng Likert 1-5 Haleem & Cộng sự (2005); Wei và các cộng sự (2012); Mai Thị Cẩm Tú (2016); Trần Lan Hương (2017) Q31_37: Nguồn lao động giá rẻ Likert 1-5 Q31_38: Nguồn lao động trẻ chất lượng Likert 1-5 Q31_39: Năng suất lao động tăng Likert 1-5 Q31_40: Quy mô sản xuất tăng Likert 1-5 Hoạt động xuất khẩu (HDXK) Q31_41: Môi trường kinh doanh Likert 1-5 Nhóm tác giả đề xuất Q31_42: Tuân thủ xã hội và đạo đức Likert 1-5 Q31_43: Các vấn đề môi trường Likert 1-5 Q31_44: Các khía cạnh khác về bền vững Likert 1-5 Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp và đề xuất ĐỖ HỮU HẢI - TĂNG THỊ MINH NGUYỆT - BÙI HỒNG ĐĂNG - BÙI TẤN HÙNG Số 220- Tháng 9. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 77 quan sát rất nhỏ (sig = 0) cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được. Phương pháp Enter được sử dụng để phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu tại TP. HCM với 9 nhân tố của thang đo được đưa vào phân tích. Hệ số xác định hiệu chỉnh (Adjusted R square) được dùng để đánh giá độ phù hợp của mô hình. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ sử dụng hiệu chỉnh để đánh giá mức độ phù hợp của mô hình vì sẽ tăng khi đưa thêm biến độc lập vào mô hình, còn hiệu chỉnh sẽ không thổi phồng mức độ phù hợp của mô hình khi đưa thêm biến độc lập vào,hiệu chỉnh càng lớn thì độ phù hợp của mô hình càng cao. Kết quả hồi quy cho thấy,đã hiệu chỉnh bằng 0,884 (mô hình giải thích được 88,4% sự thay đổi của biến hoạt động xuất nhập khẩu). Nhìn vào kết quả ta kết luận rằng: Mô hình hồi quy là phù hợp và các hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê (Bảng 4). Để xác định tầm quan trọng của các nhân Hoạt động xuất khẩu tại TP. HCM Khoảng cách về địa lý có tác động tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam có thể tác động tích cực đến hoạt động xuất khẩu Chính sách hỗ trợ XK của VN tác động tích cực lên hoạt động XK Khoảng cách về kinh tế có tác động tích cực đến hoạt xuất khẩu Tỷ giá hối đoái thực giữa QGXK và QGNK tác động tích cực đến hoạt động XK Giá xuất khẩu trong nước tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu Nam Chất lượng hàng hóa xuất khẩu có tác động tích cực với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Dân số gộp chung của 2 quốc gia có tác động cùng chiều với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam GDP của Việt Nam tác động cùng chiều với hoạt động xuất khẩu Sơ đồ 1. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại TP. HCM Nguồn: Kết quả nghiên cứu từ kiểm định các nhân tố Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 220- Tháng 9. 202078 tố GXK, CLHH, KCDL, KCKT, TGHD, CSXK, HDDT, GDPVN, DS đến hoạt động xuất khẩu của các DN tại TP. HCM, căn cứ vào hệ số Beta. Nếu trị số tuyệt đối của hệ số Beta của nhân tố nào càng lớn thì nhân tố đó càng ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của DN tại TP. HCM. Nhìn vào phương trình (1), ta dễ dàng nhận thấy nhân tố Khoảng cách kinh tế ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động xuất khẩu của DN tại TP. HCM vì beta bằng 0,364 lớn nhất trong các hệ số beta, tiếp theo là nhân tố Chính sách xuất khẩu (0.338), GDP Việt Nam (0.230), Dân số (0.185), Chất lượng hàng hóa (0.128), Tỷ giá hối đoái (0.096), Giá xuất khẩu (-0.008), Khoảng cách địa lý (-0.064), và ảnh hưởng ít nhất là nhân tố Hiệp định đối tác với hệ số beta là (-0.282). Qua đó, phương trình hồi quy đối với các biến đã được chuẩn hóa được lấy từ bảng Ý nghĩa các hệ số hồi quy riêng phần trong mô hình- Coefficientsa có dạng như sau: HDXK = 0,076 - 0,008 GXK + 0,128 CLHH - 0,064 KCDL + 0,364 KCKT + 0,096 TGHD + 0,338 CSXK – 0,282 HDDT + 0,23 GDPVN + 0,185 DS (1) Bảng 3. Tổng hợp chỉ số phân tích hồi quy bội bộ thang đo Model Summary Model R R Square Adjusted R Square Std. Error of the Estimate Change Statistics R Square Change F Change df1 df2 Sig. F Change 1 .943a .889 .884 .14584 .889 169.277 9 190 0.000 a. Predictors: (Constant), DS, GDPVN, CSXK, KCKT, GXK, TGHD, CLHH, KCDL, HDDT b. Dependent Variable: HDXK Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện Bảng 4. Kết quả hồi quy mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tại TP. HCM Coefficientsa Model B Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig. Collinearity Statistics Std. Error Beta Tolerance VIF 1 (Constant) .076 .118 .644 .521 GXK -.008 .030 -.010 -.254 .800 .345 2.897 CLHH .128 .032 .186 4.054 .000 .277 3.605 KCDL -.064 .042 -.092 -1.531 .127 .161 6.229 KCKT .364 .034 .530 10.677 .000 .237 4.218 TGHD .096 .036 .139 2.670 .008 .215 4.659 CSXK .338 .028 .473 12.015 .000 .377 2.652 HDDT -.282 .101 -.316 -2.798 .006 .046 21.823 GDPVN .230 .059 .277 3.911 .000 .116 8.584 DS .185 .056 .205 3.313 .001 .153 6.557 a. Dependent Variable: HDXK Nguồn: Nhóm tác giả thực hiện ĐỖ HỮU HẢI - TĂNG THỊ MINH NGUYỆT - BÙI HỒNG ĐĂNG - BÙI TẤN HÙNG Số 220- Tháng 9. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 79 5. Khuyến nghị giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, TP. Hồ Chí Minh cần xác định các nhóm ngành, sản phẩm xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh của Thành phố và đề xuất chiến lược, hệ thống giải pháp ngắn hạn- trung hạn- dài hạn để phát triển xuất khẩu bền vững. Dựa trên những mục tiêu trên và từ kết quả hồi qui xác định mức độ ảnh hưởng của 9 nhân tố, nhóm tác giả đưa ra một số giải pháp như sau: Một là, khoảng cách kinh tế, Nhà nước kết hợp với DN cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động thương mại, hướng đến môi trường hải quan điện tử phi giấy tờ, đẩy mạnh việc trang bị và nâng cao hiệu quả sử dụng các trang thiết bị công nghệ hiện đại trong công tác kiểm tra, giám sát quá trình thông quan. Bên cạnh đó, các DN cũng nên chủ động tìm hiểu, xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ, thành thạo ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc để tạo điều kiện thuận lợi trong khai báo, thông quan hàng hóa, qua đó giúp giảm thời gian và chi phí cho DN. Hai là, đối với chính sách xuất khẩu, Nhà nước nên tạo dựng môi trường pháp lí khuyến khích phát triển sản xuất, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các DN. Điều chỉnh chính sách liên quan trực tiếp đến xuất khẩu như chính sách thuế xuất nhập khẩu, chính sách quản lý xuất nhập khẩu theo hướng khuyến khích phát triển các ngành sản xuất mà Việt Nam có lợi thế so sánh. Từng bước nâng cao hiệu quả xuất nhập khẩu thông qua việc hoàn thiện toàn bộ hệ thống thuế, phí theo hướng thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu. Bên cạnh đó Nhà nước cũng nên thiết lập chặt chẽ cơ chế trao đổi thông tin nội bộ và trao đổi giữa các cơ quan, cần tăng cường kiểm soát, quản lý đối với các cán bộ có thẩm quyền tại cửa khẩu (Trần Viết Long, 2017), tạo điều kiện thuận lợi để các cơ chế được thực thi, làm rõ thẩm quyền của từng bộ phận để các cán bộ có trách nhiệm với vị trí của mình, cần có cơ chế công nhận đánh giá kết quả để hoạt động xuất nhập khẩu được thông thoáng, hạn chế được các bất cập trong công tác quản lý. Ba là, DN cần chủ động đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế thế giới thông qua các hiệp định đối tác kinh tế. Tính đến nay, Việt Nam đã xây dựng khuôn khổ thương mại tự do với gần 60 nước (chiếm 59% dân số, 61% GDP và 68% thương mại thế giới) thông qua 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), bao gồm cả các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU (EVFTA) (Bùi Thanh Sơn, 2020), theo đó các DN cần tiếp tục nâng cao toàn diện năng lực thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Bốn là, các doanh nghiệp cần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu bằng cách giảm giá xuất khẩu hàng hóa nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu của nước nhập khẩu thông qua giảm chi phí sản xuất, chi phí đầu vào, chi phí trung gian và các chi phí khác cho DN Bên cạnh đó DN cũng nên chủ động tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào giá rẻ trong nước thay cho các nguyên liệu phải nhập khẩu. Việc tập trung giảm chi phí sản xuất của DN cũng cần song song với việc tăng chất lượng hàng hóa, thông qua đầu tư nghiên cứu thị trường và phát triển công nghệ chế biến hiện đại cũng như ưu tiên đáp ứng đủ các yêu cầu về chất lượng hàng Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 220- Tháng 9. 202080 hóa của nước nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế. 6. Kết luận và hạn chế của nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng mô hình lực hấp dẫn trong thương mại để phát triển các giả thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động xuất khẩu tại TP. HCM. Kết quả hồi quy từ dữ liệu khảo sát trên 200 DN xuất khẩu tại TP. HCM cho thấy các nhân tố khoảng cách kinh tế, chính sách xuất khẩu, GDP Việt Nam, dân số, chất lượng hàng hóa, tỷ giá hối đoái có tác động tích cực với hoạt động xuất khẩu của các DN. Bên cạnh đó nhân tố giá xuất khẩu, hiệp định đối tác, khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của DN xuất khẩu trên địa bàn TP. HCM. Kết quả này phù hợp với cơ sở lý thuyết về lực hấp dẫn trong thương mại, điều này cho thấy rằng để nâng cao hiệu quả xuất khẩu thì các DN cần tập trung nâng cao trình độ sản xuất, ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế và đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu đặt ra về chất lượng sản phẩm xuất khẩu của các nước đối tác. Hơn nữa, Nhà nước cũng cần tạo dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, có các chính sách thúc đẩy hỗ trợ, tạo điều kiện cho các DN xuất nhập khẩu tại TP. HCM. Tài liệu tham khảo 1. Bùi Thanh Sơn (2020). “Triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và toàn diện”. Tạp Chí Cộng Sản. 2. Bergstrand, J.H. (1985). “The gravity equation in international trade: some microeconomic foundations and empirical evidence”. The Review of Economics and Statistics. 474-481. 3. Cổng thông tin điện tử TP. HCM (2019), Quy mô nền kinh tế TP. HCM cán mốc 57 tỷ USD. Truy cập 5.01.2019, từ 4. Doãn Công Khánh. (2019). Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Thực tiễn và Giải pháp. Truy cập 31.12.2019, từ ang/-/2018/815790/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-cho-cac-mat-hang-xuat-khau-chu-luc--thuc-tien-va-giai-phap.aspx 5. Đào Ngọc Tiến (2009). “Các nhân tố ảnh hưởng đến luồng xuất khẩu của Việt Nam và hàm ý chính sách trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu”, Hội thảo Nghiên cứu về chính sách thương mại quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương. 7-10. 6. Konstantinos, Kepaptsoglou (2010). “The gravity model specification for modeling international trade flows and free trade agreement effects: a 10-year review of empirical studies”. The open economics journal. 7. Linnermann H. (1966). “An Econometric Study of International Trade Flows”. Amsterdam, North-Holland. 8. Mai Thị cẩm Tú (2016), Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế- Luật TP. HCM. 9. Poyhonen, P. (1963). “A Tentative Model for the Volume of Trade between Countries”, Weltwirtschaftliches Archiv 90, 93-99. 10. Sevela M. (2002). “Gravity type model of Czech agricultural export”. Agriculltural Economics. 463-465. 11. Sài Gòn đầu tư (2019), TP. HCM tìm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu. Truy cập 21.10.2019, từ https://finance.tvsi. com.vn/news/detailNews?newsId=500837 12. Tinbergen (1962), “Shaping the World Economy”, The Twentieth Century Fund, New York. 271. 13. Trần Nhuận Kiên, Ngô Thị Mỹ (2015). “Các yếu tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam: Phân tích bằng mô hình trọng lực”. Tạp chí những vấn đề Kinh tế & Chính trị thế giới. 47-50. 14. Trần Lan Hương, (2017), Các yếu tố quyết định xuất khẩu sản phẩm Việt Nam, cho các thành viên ASEAN, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. 15. Trần Viết Long (2017). “Một số vướng mắc về thẩm quyền kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới và một số giải pháp”. Tạp chí Pháp Luật và Thực Tiễn. 54-57. 16. Võ Văn Dứt (2016). “Mối quan hệ giữa khoảng cách kinh tế, khoảng cách địa lý và xuất khẩu của công ty con tại Việt Nam”. Tạp chí Kinh tế và Kinh doanh. 48-56. 17. Wei G, Huang J. and Yang J. (2012). “The impacts of food safety standards on China ‟tea export”’. China Economic Review. xem tiếp trang 37 TRƯƠNG ĐÔNG LỘC 37Số 220- Tháng 9. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 5. Crowder, W.J. và Hoffman, D.L., 1996. The long-run relationship between nominal interest rates and inflation: the Fisher equation revisited. Journal of Money, Credit and Banking, 28(1), 102-118. 6. Evans, M. and Lewis, K., 1995. Do expected shifts in inflation affect estimates of the long-run Fisher relations? Journal of Finance, 50, 225-253. 7. Engle, R. F. và Granger, C. W. J., 1987. Granger co-integration and error correction: representation, estimation, and testing. Econometrica, 55(2), 251-276. 8. Fisher, I., 1930. The theory of interest, as determined by impatience to spend income and opportunity to invest it. NewYork: Macmillan. 9. Gregory, A. W. và Hansen, B. E., 1996. Residual-based tests for cointegration in models with regime shifts. Journal of Econometrics, 70, 99–126. 10. Maghyereh, A. và Al-Zoubi, H., 2006. Does fisher effect apply in developing countries: Evidence from a nonlinear cotrending test applied to Argentina, Brazil, Malysia, Mexico, Korea and Turkey. Applied Econometrics and International Development, 6(2), 31-46. 11. Mishkin, F. S., 1992. Is the Fisher effect for real?: A reexamination of the relationship between inflation and interest rates. Journal of Monetary Economics, 30(2), 195-215. 12. Nusair, S. A., 2008. Testing for the Fisher hypothesis under regime shifts: an application to Asian countries. International Economic Journal, 22(2), 273-284. 13. Payne, J. E. và Ewing, B. T., 1997. Evidence from lesser developed countries on the Fisher hypothesis: a cointegration analysis. Applied Economic Letters, 4, 683-687. 14. Pesaran, M. H., Shin, Y. và Smith, R. J., 2001. Bounds testing approaches to the analysis of level relationships. Journal of Applied Econometrics , 16(3), 289-326. 15. Thornton, J., 1996. The adjustment of nominal interest rates in Mexico: A study of the Fisher effect. Applied Economics Letters, 3, 255-257. Từ kết quả trên cũng cho thấy một số hạn chế của nghiên cứu. Đây là nghiên cứu khám phá với bối cạnh tại TP. HCM cũng như hạn chế về kinh phí nên qui mô mẫu bị hạn chế, do đó nhóm tác giả chưa đưa ra được tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa, bên cạnh đó các nhân tố chỉ được phân tích độc lập mà chưa đánh giá đươc sự tác động tương quan trong nghiên cứu. Ngoài ra, các giải pháp được đưa ra mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN xuất nhập khẩu chứ chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể giúp nâng cao giá trị xuất khẩu tại TP. HCM. Nhóm tác giả hi vọng một số hạn chế này sẽ được khắc phục ở những nghiên cứu tiếp theo ■ tiếp theo trang 80

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_hoat_dong_xuat_khau_tai_thanh_pho.pdf
Tài liệu liên quan