Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học u màng não mỏm yên bướm trước

Hình ảnh học 69 trường hợp được chẩn đoán ban đầu với chụp cắt lớp vi tính. Tất cả 69 trường hợp đều được chụp cộng hưởng từ có tiêm thuốc đối quang từ. Theo chúng tôi, chụp cắt lớp vi tính có cản quang có thể cho biết những thông tin cần thiết để chẩn đoán, tuy nhiên với vị trí đặc biệt này cần chụp thêm cộng hưởng từ để khảo sát thêm các mối liên quan với những cấu trúc quan trọng quanh u để phẫu thuật viên hoạch định và tiên lượng tốt cuộc phẫu thuật. Trong nghiên cứu này, có 5 trường hợp được chụp mạch máu với cộng hưởng từ, có 3 trường hợp được chụp khảo sát mạch máu xóa nền và thuyên tắc mạch trước phẫu thuật. Đường kính của khối u lớn hơn 4 cm trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ 88,4%. Phần lớn bệnh nhân u màng não mỏm yên bướm trước nhập viện trong nghiên cứu này với kích thước u lớn hơn so với các tác giả Al – Mefty (4,2 cm), Tobias (3,7 cm), Russell (4,5 cm)(1,9,10). Trong nghiên cứu này, 66/69 trường hợp (95,7%) u bắt cản quang khi bơm thuốc, cũng tương đương với các tác giả khác như Greenberg 95% và Osborn là trên 90%. Cũng theo Greenberg và Osborn, tỷ lệ u màng não có canxi hóa là 15 – 27% và 20 – 25%. Theo các tác giả thì sự canxi hóa có liên quan đến u màng não dạng thể cát(7,6). Trong nghiên cứu của chúng tôi u có canxi chiếm tỷ lệ 14%, tuy nhiên chỉ có 1 trường hợp u màng não dạng thể cát (1,6%). Trong nghiên cứu này 92,8% u tăng tín hiệu đồng nhất sau khi bơm thuốc đối quang từ, tỷ lệ này cũng tương đương với Osborn (90%) và Zimmerman (92%). Bao bọc động mạch cảnh trong và phù não quanh u trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỷ lệ 40,6% và 91,3% cũng không khác biệt so với Nakamura 44,5% và 85,2%(5). Theo Al – Mefty, liên quan giữa u và động mạch cảnh là yếu tố quan trọng để lựa chọn phương pháp phẫu thuật và tiên lượng cuộc phẫu thuật(1). Phân loại u Ngày nay phân loại u màng não mỏm yên bướm trước theo Al – Mefty liên quan đến việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật và được nhiều tác giả chấp nhận. Theo nhiều tác giả, việc cố gắng bóc tách lấy toàn bộ u màng não mỏm yên bướm trước nhóm I tăng nguy cơ tổn thương động mạch, tăng tỷ lệ tử vong và tổn thương động mạch sau mổ.

pdf6 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 28/01/2022 | Lượt xem: 30 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học u màng não mỏm yên bướm trước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Bệnh Lý Sọ Não     229  NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ HÌNH ẢNH HỌC   U MÀNG NÃO MỎM YÊN BƯỚM TRƯỚC  Trần Huy Hoàn Bảo*  TÓM TẮT  Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của u màng não mỏm yên bướm trước.  Phương pháp: Tiền cứu 69 bệnh nhân u màng não mỏm yên bướm trước được phẫu thuật vi phẫu tại Bệnh  viện Chợ Rẫy từ 1/2008 đến 12/2012.  Kết quả: 69 bệnh nhân trong nghiên cứu gồm 18 nam và 51 nữ, tuổi từ 12 đến 71 tuổi ( tuổi trung bình 49  tuổi). Triệu chứng thường gặp là đau đầu (89,9%), giảm thị lực (42%), động kinh và rối loạn vận động (17,4%).  Kích thước u từ 3 cm đến 8,5 cm, trung bình là 5,5 cm. Trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, phần lớn các u màng  não mỏm yên bướm trước tăng đậm độ so với chất xám 82,6%, bắt cản quang khi bơm thuốc 95,7%, u có nang  5,8% và vôi hoá 8,7%.Trên hình ảnh cộng hưởng từ, 60,9% đồng tín hiệu và 39,1% giảm tín hiệu so với chất  xám trên T1W, 92,8% tăng tín hiệu đồng nhất sau khi tiêm thuốc đối quang từ, 34,8% chèn ép dây thần kinh thị  giác và 40,6% bao bọc động mạch cảnh và các nhánh của nó. Tất cả 69 trường hợp được điều trị phẫu thuật với  63 trường hợp (95,7%) qua đường mổ trán thái dương và 3 trường hợp (4,3%) qua đường trán ổ mắt cung gò  má. Phân loại u màng não mỏm yên bướm trước theo Al – Mefty: 21,7% loại I, 73,9% loại II và 4,4% loại III. Kết  quả mô bệnh học: u màng não dạng thượng mô 84,1%, u màng não dạng tăng sinh mạch 7,2%, u màng não  dạng chuyển tiếp 4,3%, u màng não dạng thể cát 1,6% và 2,9% u màng não ác tính.  Kết  luận: U màng não mỏm yên bướm trước đa số là u lành tính, phát triển chậm, khi phát hiện thì kích  thước u khá lớn, xâm lấn và bao bọc các cấu trúc thần kinh mạch máu quan trọng. Hiện nay, với các phương tiện  chẩn đoán hình ảnh học hiện đại giúp chẩn đoán sớm, khảo sát đầy đủ khối u nhiều mặt, phân loại u để lựa chọn  phương pháp phẫu thuật phù hợp nhằm đạt kết quả tốt, giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng.  Từ khóa: U màng não, Mỏm yên bướm trước  ABSTRACT  THE CLINICAL CHARACTERISTICS, RADIOGRAPHIC OF ANTERIOR CLINOIDAL MENINGIOMAS (ACMS)  Tran Huy Hoan Bao  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 229 – 234  Objective: Studying the clinical features and radiographic presentations of Anterior Clinoidal Meningiomas (ACMs).   Methods: A prospective study on 69 cases with anterior clinoidal meningiomas underwent microsurgical  removal at Cho Ray hospital from 1/1/2008 to 31/12/2012.   Results: Sixty nine patients (18 men and 51 women), from 12 to 72 years old (mean: 49 years). The clinical  features were dominated by: headache 89.9%, decreased visual acuity (42%), seizure and hemiparesis (17.4%).  The tumor were from 3 cm to 8.5 cm (mean: 5.5 cm). On CT scans, hyperdense 82.6%, enhance 95.7%, cystic  areas 5.8% and calcified 8.7%. On MRI scans, isointense 60.9% and hypointense 39.1 with gray matter in T1W,  enhance strongly and uniformly 92.8%, compressed optic nerve 34.8%, encasement ICA and its branches 40.6%.  Sixty nine patients were operated through the frontaltemporal (pterion) approach (n = 63) and orbitozygomatic  approach (n = 3). Al – Mefty’s anterior clinoid meningioma classification: group I (21.7%), group II (73.9%) and  group III (4.4%). Histopothological investigation: meningothelial 84.1%, angiomatous 7.2%, transitional 4.3%,  * Khoa Phẫu Thuật Thần Kinh BV Chợ Rẫy  Tác giả liên lạc: Trần Huy Hoàn Bảo ĐT: 090 3663482;   Email: drhoanbao@yahoo.com  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh 230 psammomatous 1.6% and malignant 2.9%.  Conclusion: Anterior clinoid meningiomas are benign with silent evolution, these meningiomas can grow to  a  large size before causing symptoms, compress and encasement  important surrounding structure, optic nerve  and  ICAs  and  their  branches. With  current modern  radiographic  techniques,  anterior  clinoid meningingioms  were diagnosed early, classification of this tumors to choose a suitable operated method, achieved a good result the  results, decreased morbidity and mortality rates.  Keywords: Anterior clinoid meningiomas, microsurgical removal  ĐẶT VẤN ĐỀ.  U màng não là thương tổn tân sinh, xuất phát  từ tế bào màng nhện. Đây là thương tổn lành tính  chiếm  khoảng  20%  các  u  trong  sọ,  phát  triển  chậm và ít xâm lấn vào nhu mô não, vì thế có thể  chữa  khỏi  bằng  phẫu  thuật. U màng  não  cánh  xương bướm  chiếm  tỉ  lệ 11,9%  ‐ 17%  các  loại u  màng não nội sọ(1). U màng não mỏm yên bướm  trước chiếm tỷ lệ gần 50% u màng não cánh nhỏ  xương bướm,  đa  số  là u  lành  tính  thường phát  triển chậm, vì vậy khi có biểu hiện  lâm sàng  thì  kích thước u khá  lớn, nếu được chẩn đoán sớm,  điều trị phẫu thuật triệt để sẽ đạt kết quả tốt và ít  để lại di chứng. Đây là loại u khó điều trị do u có  thể xâm lấn, bao bọc các cấu trúc quan trọng như  động mạch cảnh  trong, các dây  thần kinh  II,  III,  IV, V, VI. Do vậy việc phẫu thuật lấy bỏ toàn bộ  khối  u,  bảo  tồn mạch máu,  chức  năng  các dây  thần kinh sọ là vấn đề hết sức khó khăn và phức  tạp. Để đạt được kết quả phẫu  thuật  lấy u một  cách  triệt  để,  làm  giảm  tỷ  lệ  tử  vong,  các  biến  chứng và tỷ lệ tái phát thấp nhất, cần có sự hiểu  biết  kỹ  lưỡng  về  vi  giải  phẫu  của  vùng  xương  bướm, đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của u  màng não mỏm yên bướm trước(3,4).   ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu  Gồm  69  trường  hợp  nhập  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy  từ  01/01/2008  đến  31/12/2012  được  chẩn  đoán u màng não mỏm yên bướm trước.  Phương pháp nghiên cứu   tiến  cứu  theo phương pháp mô  tả  69 bệnh  nhân u màng não mỏm yên bướm  trước  được  phẫu thuật vi phẫu từ 01/01/2008 đến 31/12/2012  tại bệnh viện Chợ Rẫy.  KẾT QUẢ  Tuổi và giới   Bao gồm 51 nữ và 18 nam. Tỷ lệ nữ/ nam là  2,83/1. Tuổi nhỏ nhất là 12 tuổi và lớn nhất là 71  tuổi,  tuổi  trung bình  là 49 ±11,9  tuổi, hai nhóm  tuổi tập trung nhiều nhất từ 40‐49 và 50‐59.  Triệu chứng lâm sàng  Thời gian từ lúc khởi bệnh đến khi nhập viện  Bảng 1: Thời gian từ lúc khởi bệnh đến khi nhập viện  Thời gian Số trường hợp Tỷ lệ % < 3 tháng 14 20,3 3 - 12 tháng 37 53,7 12 tháng - 2 năm 7 10,1 > 2 năm 11 15,9 Tổng cộng 69 100 Thời  gian  từ  lúc  khởi  phát  bệnh  đến  khi  nhập viện được tính bằng tháng. Thời gian khởi  bệnh sớm nhất là 1tháng và lâu nhất là 48 tháng.  Thời gian  trung bình  là 10,7  tháng với  độ  lệch  chuẩn 13,1 tháng (trung vị 6 tháng).  Lý do nhập viện   69 trường hợp nhập viện với các lý do như sau  Bảng 2: Lý do nhập viện  Triệu chứng khởi phát Số trường hợp Tỷ lệ % Nhức đầu 62 89,9 Giảm thị lực 22 31,9 Rối loạn vận nhãn 3 4,3 Động kinh 11 15,9 Rối loạn vận động 9 13,1 Rối loạn tri giác 3 4,3 Lồi mắt 4 5,8 Rối loạn tâm thần 3 4,3 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Bệnh Lý Sọ Não     231  Triệu chứng thường gặp của u màng não mỏm  yên  bướm  trước  là  đau  đầu:  62/69  trường  hợp  (89,9%) và giảm thị lực: 22/69 trường hợp (31,9%).  11/69  trường  hợp  (15,9%)  động  kinh  trong  bệnh  sử và  cũng  là  triệu  chứng nhập viện  của  bệnh nhân.   Triệu chứng lâm sàng   Triệu chứng lâm sàng 69 trường hợp như sau  Bảng 3: Triệu chứng lâm sàng  Triệu chứng lâm sàng Số trường hợp Tỷ lệ % Nhức đầu 62 89,9 Giảm thị lực 29 42,0 Rối loạn vận nhãn 6 8,7 Động kinh 12 17,4 Rối loạn vận động 12 17,4 Rối loạn ngôn ngữ 4 5,8 Rối loạn tri giác 3 4,3 Lồi mắt 6 8,7 Rối loạn tâm thần 3 4,3 Nhận xét   ‐ Triệu chứng nhức đầu chiếm tỷ lệ cao nhất  (62/69 trường hợp) 89,9%.  ‐  Triệu  chứng  giảm  thị  lực  (29/69  trường  hợp) chiếm tỷ lệ 42%, với 21 trường hợp có phù  gai và 5 trường hợp teo gai.  ‐  Động  kinh  và  rối  loạn  vận  động  có  tỷ  lệ  thấp hơn (12/69 trường hợp) chiếm tỷ lệ 17,4%.  ‐ Các  triệu  chứng  ít  gặp  hơn  như  rối  loạn  ngôn ngữ  (5,8%),  rối  loạn  tri giác  (4,3%) và  rối  loạn tâm thần (4,3%).  Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện theo thang  điểm Karnofsky  Đánh giá 69 trường hợp u màng não mỏm yên  bướm trước theo thang điểm Karnofsky như sau:  Bảng 4: Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện  Karnofsky Số trường hợp Tỉ lệ % Từ 0-40 18 26,1 Từ 50-70 36 52,2 Từ 80-100 15 21,7 Tổng cộng 69 100 Nhận xét:  ‐ 18 trường hợp nhập viện với Karnofsky từ 0‐  40 điểm, trong đó có 3 trường hợp giảm tri giác, 14  trường hợp giảm thị lực nghiêm trọng và 1 trường  hợp rối loạn vận động (yếu nửa người).  ‐ Có 15 trường hợp nhập viện với Karnofsky  từ 80‐100 điểm, biểu hiện chủ yếu  là nhức đầu  nhưng có thể làm việc được.  Hình ảnh học   Hình ảnh trên cắt lớp vi tính  Khảo sát đặc điểm của khối u trên hình ảnh  chụp cắt lớp vi tinh trong nghiên cứu của chúng  tôi như sau.  Bảng 5: Đặc điểm khối u  Đặc điểm của u Số ca Tỷ lệ % U tăng đậm độ so với chất xám 57 82,6 U đồng đậm độ so với chất xám 10 14,5 U giảm đậm độ so với chất xám 2 2,9 U bắt cản quang khi bơm thuốc 66 95,7 U có canxi 10 14,5 U có nang 4 5,8 U có kèm dày xương sọ 11 15,9 U có kèm hủy xương sọ 6 8,7 Phù não quanh u 57 82,6 Nhận xét:  ‐ Phần  lớn các u màng não  tăng đậm độ so  với  chất  xám  (82,6%),  bắt  cản  quang  khi  bơm  thuốc (95,7%), phù não quanh u (82,6%).  ‐ Chỉ có 4/69 (5,8%) trường hợp u có nang và  6/69 (8,7%) có vôi hóa.  Hình ảnh trên cộng hưởng từ  Tất  cả  69  trường hợp  đều  được  chụp  cộng  hưởng từ không và có bơm thuốc đối quang từ  trước mổ. Đặc điểm khối u  trên hình ảnh cộng  hưởng từ như sau:  Bảng 6: Đặc điểm khối u và cấu trúc liên quan trên  phim CHT  Đặc điểm Số trường hợp Tỉ lệ % Đồng tín hiệu so với chất xám trên T1W 42 60,9 Giảm tín hiệu so với chất xám trên T1W 27 39,1 Đồng tín hiệu chất xám trên T2W 36 52,2 Tăng nhẹ tín hiệu chất xám trên T2W 27 39,1 Tăng tín hiệu đồng nhất sau khi tiêm thuốc tương phản 64 92,8 Bao bọc động mạch 28 40,6 Chèn ép thị thần kinh và giao thoa thị giác 24 34,8 Phù não quanh u 63 91,3 Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh 232 Nhận xét:  ‐ Phần lớn các trường hợp đồng (60,9%) hoặc  giảm (39,1%) tín hiệu so với chất xám trên T1W.  ‐  64/69  trường  hợp  (92,8%)  tăng  tín  hiệu  đồng nhất sau khi tiêm chất đối quang từ, 63/69  trường hợp (91,3%) kèm phù não quanh u.  ‐ 28/69  trường hợp  (34,8%) chèn ép dây  thần  kinh  thị giác và 28/69 trường hợp (40,6%) trường  hợp bao bọc động mạch cảnh và các nhánh của nó.  Kích thước khối u  Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước  của khối u được phân bố như sau:   Bảng 7: Kích thước khối u  Kích thước khối u Số trường hợp Tỉ lệ % < 4 cm 8 11,6 4 - < 6 cm 46 66,7 ≥ 6 cm 15 21,7 Tổng cộng 69 100 Nhận xét:   ‐ U có đường kính nhỏ nhất là 3 cm, lớn nhất  là 8,5 cm, trung bình là 5,5 cm (sd = 1 cm).  ‐  Phần  lớn  bệnh  nhân  nhập  viện  với  u  có  kích thước lớn và khổng lồ, 61/69 (89,4%) trường  hợp u có kích thước lớn hơn 4 cm.  Phân loại u màng não mỏm yên bướm trước  Áp dụng  bảng phân  loại u màng  não mỏm  yên bướm trước của Al – Mefty, dựa vào hình ảnh  cộng hưởng từ và đánh giá mối liên quan giữa u  và động mạch cảnh trong  lúc mổ, 69 trường hợp  trong nghiên cứu này phân bố như sau:  Bảng 8: Phân loại Al‐Mefty  Phân loại Al-Mefty Số trường hợp Tỉ lệ % Loại I 15 21,7 Loại II 51 73,9 Loại III 3 4,4 Tổng cộng 69 100 Nhận  xét:  Phần  lớn  các  u màng  não mỏm  yên  bướm  trước  có  lớp màng  nhện  ngăn  cách  giữa u và mạch máu, có thể bóc tách được trong  quá trình phẫu thuật 51/69 trường hợp (73,9%).  Kết quả mô bệnh học   Tất cả 69 trường hợp được phẫu thuật và có  kết quả mô bệnh học như sau:  Bảng 9: Kết quả mô bệnh học  Mô bệnh học Số trường hợp Tỉ lệ % U màng não dạng thượng mô 58 84,1% U màng não dạng thể cát 1 1,6% U màng não dạng tăng sinh mạch 5 7,2% U màng não dạng chuyển tiếp 3 4,3% U màng não dạng thoái sản 2 2,9% Tổng cộng 69 100% Nhận xét:   Phần lớn u màng não mỏm yên bướm trước  là dạng thượng mô: 59/69 trường hợp (84,1%).  Có 2/69 trường hợp (2,9%) là u màng não ác tính.  BÀN LUẬN  Một số đặc điểm lâm sàng u màng não mỏm yên  bướm trước  ‐ Trong các thống kê về u màng não, nữ giới  thường  chiếm  tỷ  lệ  cao  hơn,  tỷ  lệ  nam/nữ  từ  1/1,3 đến 1/3. Trong nhóm nghiên cứu của chúng  tôi,  tỷ  lệ nam/nữ  là 1/2,8. So với Samuel Tobias  thì  tỷ  lệ nam/nữ  của  chúng  tôi  cao  hơn. Tỷ  lệ  nam/nữ từ 1/12 dến 1/2,8 tùy theo từng tác giả(10).  U  màng  não  thường  phát  triển  âm  thầm,  chậm  trước khi có biểu hiện  lâm. Theo bảng 5,  phần lớn bệnh nhân (84%) có thời gian từ khi có  triệu  chứng  đến  khi  được  chẩn  đoán  dưới  12  tháng, có 11/69 trường hợp (16%) các triệu chứng  kéo dài trên 2 năm.   Theo  bảng  6,  phần  lớn  bệnh  nhân  (89,9%)  nhập viện vì đau đầu, cùng các triệu chứng khác  như ói, động kinh, giảm thị lực, tổn thương dây  thần kinh vận nhãn. Nhức đầu và giảm thị lực là  hai triệu chứng khởi phát sớm và chiếm tỷ lệ cao  trong  loại  u  này,  nhưng  cũng  dễ  chẩn  đoán  nhầm do nghĩ đến các bệnh về xoang hay mắt.  Vì vậy, để phát hiện sớm u khi bệnh nhân đến  khám vì các  triệu chứng  trên, đồng  thời với sự  phổ cập các phương tiện chẩn đoán hiện nay thì  chỉ định chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ  cho bệnh nhân là điều cần thiết.  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014  Nghiên cứu Y học Bệnh Lý Sọ Não     233  Biểu  hiện  lâm  sàng  u màng  não mỏm  yên  bướm trước khá mờ nhạt. Theo bảng 7, hầu hết  các u màng não mỏm yên bướm  trước có biểu  hiện  của  tăng  áp  lực  nội  sọ  (89,9%),  các  triệu  chứng thường gặp khác như giảm thị lực (42%),  động kinh (17,4%) và rối loạn vận động (17,4%).  Nhức  đầu  luôn  là  triệu  chứng  thường  gặp  ở  bệnh nhân u màng não mỏm yên bướm  trước,  của nghiên cứu hiện tại là 89,9%, cũng tương tự  các  tác giả khác như Nakamura  (82,7%), Ringel  (88%) (5,8). Giảm thị lực chiếm tỷ lệ cao ở nghiên  cứu này 42%, cũng tương đương với nghiên cứu  của  Ringel  (44,4%)  và  có  thấp  hơn Nakamura  60,9%  và  Tobias  (53,9%).  Ngoài  ra  các  triệu  chứng  khác  trong  nghiên  cứu  này;  rối  loạn  tri  giác  (4,3%),  rối  loạn  vận  nhãn  (8,7%),  lồi mắt  (8,7%)  cũng  có  tỷ  lệ  tương  tự như  của Tobias,  Ringel, Nakamura(5,8,10).   Qua bảng 7, phần lớn bệnh nhân không thể  tiếp tục được công việc, phải đến khám và nhập  viện điều  trị  (78,3%),  trong đó 18/69 bệnh nhân  cần phải có sự chăm sóc và điều trị tích cực do  rối loạn tri giác hoặc liệt vận động có sự giúp đỡ  trong sinh hoạt hàng ngày hoặc rối loạn tri giác,  chỉ  có 15/69 bệnh nhân  (21,7%  )  chỉ có  có  triệu  chứng đau đầu nhẹ, vẫn còn tiếp tục công việc.  Hình ảnh học  69 trường hợp được chẩn đoán ban đầu với  chụp cắt  lớp vi  tính. Tất cả 69  trường hợp đều  được  chụp  cộng  hưởng  từ  có  tiêm  thuốc  đối  quang từ. Theo chúng tôi, chụp cắt lớp vi tính có  cản quang có  thể cho biết những  thông  tin cần  thiết để chẩn đoán, tuy nhiên với vị trí đặc biệt  này cần chụp  thêm cộng hưởng  từ để khảo sát  thêm các mối liên quan với những cấu trúc quan  trọng quanh u để phẫu thuật viên hoạch định và  tiên  lượng  tốt  cuộc  phẫu  thuật.  Trong  nghiên  cứu này, có 5 trường hợp được chụp mạch máu  với cộng hưởng từ, có 3 trường hợp được chụp  khảo sát mạch máu xóa nền và thuyên tắc mạch  trước phẫu thuật.  Đường kính của khối u  lớn hơn 4 cm  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  chiếm  tỷ  lệ  88,4%.  Phần  lớn  bệnh  nhân  u  màng  não  mỏm  yên  bướm trước nhập viện trong nghiên cứu này với  kích  thước  u  lớn  hơn  so  với  các  tác  giả Al  –  Mefty  (4,2  cm),  Tobias  (3,7  cm),  Russell  (4,5  cm)(1,9,10).  Trong  nghiên  cứu  này,  66/69  trường  hợp  (95,7%)  u  bắt  cản  quang  khi  bơm  thuốc,  cũng  tương đương với các tác giả khác như Greenberg  95%  và  Osborn  là  trên  90%.  Cũng  theo  Greenberg và Osborn, tỷ lệ u màng não có canxi  hóa là 15 – 27% và 20 – 25%. Theo các tác giả thì  sự canxi hóa có liên quan đến u màng não dạng  thể cát(7,6). Trong nghiên cứu của chúng tôi u có  canxi chiếm tỷ lệ 14%, tuy nhiên chỉ có 1 trường  hợp u màng não dạng thể cát (1,6%).  Trong nghiên cứu này 92,8% u tăng tín hiệu  đồng nhất sau khi bơm thuốc đối quang từ, tỷ lệ  này  cũng  tương  đương  với  Osborn  (90%)  và  Zimmerman  (92%).  Bao  bọc  động  mạch  cảnh  trong và phù não quanh u trong nghiên cứu của  chúng  tôi  chiếm  tỷ  lệ  40,6%  và  91,3%  cũng  không  khác  biệt  so  với  Nakamura  44,5%  và  85,2%(5). Theo Al  – Mefty,  liên  quan  giữa u  và  động mạch  cảnh  là  yếu  tố  quan  trọng  để  lựa  chọn  phương  pháp  phẫu  thuật  và  tiên  lượng  cuộc phẫu thuật(1).  Phân loại u  Ngày nay phân  loại u màng não mỏm yên  bướm trước theo Al – Mefty  liên quan đến việc  lựa  chọn  phương  pháp  phẫu  thuật  và  được  nhiều tác giả chấp nhận. Theo nhiều tác giả, việc  cố gắng bóc tách  lấy toàn bộ u màng não mỏm  yên  bướm  trước  nhóm  I  tăng  nguy  cơ  tổn  thương  động mạch,  tăng  tỷ  lệ  tử  vong  và  tổn  thương động mạch sau mổ.  Mô bệnh học  Tỷ lệ u màng não dạng thượng mô và dạng  tăng sinh mạch trong nghiên cứu của chúng tôi  cao hơn Nakamura  (78,7% và 1%) và Bassiouni  (60,4% và 2,8%)(2,5).  Theo  Akagami, Mc  Carthy,  Black, mô  học  của u màng não  là một yếu  tố  tiên  lượng  thời  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014 Chuyên Đề Phẫu Thuật Thần Kinh 234 gian sống, tỷ lệ tái phát, di căn của u màng não,  đặc biệt  là u màng não dạng không  điển hình  (WHO xếp nhóm II) và ác tính (WHO xếp nhóm  III).  Trong  nghiên  cứu  này,  tỷ  lệ  u màng  não  dạng không điển hình và ác tính là 0% và 2,9%.  KẾT LUẬN  U màng não mỏm yên bướm trước nằm ở vị  trí giữa  sàn  sọ  trước và  sàn  sọ giữa,  liên quan  đến các cấu  trúc  thần kinh và mạch máu quan  trọng, vì vậy việc phẫu  thuật  lấy u và bảo  tồn  chức năng  thần kinh ngày nay vẫn  còn  là một  thách  thức  đối  với  phẫu  thuật  viên  thần  kinh.  Cùng  với  sự  hổ  trợ  của  các  phương  tiện  chẩn  đoán hình ảnh và kỹ thuật mổ vi phẫu, gây mê  hồi sức, việc đánh giá đầy đủ các đặc điểm lâm  sàng,  hình  ảnh  học,  phân  loại  u  để  lựa  chọn  phương pháp điều trị phù hợp là điều cần thiết  nhằm  đạt  được kết quả điều  trị  tốt nhất,  tránh  được tử vong và biến chứng.  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Al‐Mefty O,  (1990),  “Clinoidal meningioma”,  J. Neurosurg,  Vol. 73, pp. 840‐849.   2. Bassiouni  H,  (2009),  “Anterior  clinoidal  meningiomas:  functional  outcome  after  microsurgical  resection  in  a  consecutive series of 106 patients”,  J Neurosurg, vol 111, pp  1078‐1090.  3. Basso A,  (2006),  “Sphenoid Ridge Meningiomas”, Operative  Neurosurgical Techniques, vol 1, pp 226‐237.  4. Brotchi J, Bannal JP (1991), “Lateral and Middle Sphenoid Wing Meningiomas”, Meningiomas, Raven Press. Ltd., Newyork, pp. 413–426. 5. Nakamura N, (2006), “Medial Sphenoid Wing Meningiomas: Clinical Outcome and Recurrence Rate”, Neurosurgery vol 58, num 4, pp 626-638. 6. Osborn AG (2004), “Meningiomas”, Imaging Brain, Mosby,  St. Louis, pp. 56‐68.  7. Phạm Ngọc Hoa (2002), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm  sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của u màng não nội  sọ, Luận án tiến sĩ y học, Hà Nội, tr. 28.  8. Ringel  F,  Cedzich  C,  Schramm  J  (2007),  “Microsurgical  Technique  and  Results  of  a  Series  of  63  Spheno‐orbital  Meningiomas”, Operative Neurosurgery 2, vol 60, pp 214‐ 222.  9. Russell SM et al, (2006), “Surgical Management of Tuberculum Sellae and Medial Sphenoid Ridge Meningiomas”, Operative Neurosurgery Techniques, pp 215-225. 10. Tobias  S,  (2003),  “Management  of  surgical  clinoidal  meningiomas”, Neurosurg Focus 14, vol 14, pp 1‐7.  11. Võ Văn Nho (2013), U màng não, Phẫu thuật thần kinh, tr.  47‐65.   Ngày nhận bài báo:       21/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   2/11/2014  Ngày bài báo được đăng:    5/12/2014 

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_lam_sang_va_hinh_anh_hoc_u_mang_nao_mom.pdf